chương 1, Thượng kinh ký sự và Mười ngày ở Huế trong tiến trình vận động của thể tài du ký, chúng tôi đã lần lượt làm rõ khái niệm du ký dưới nhiều góc độ đ ng thời chỉ ra quan điểm mà chúng tôi s dụng là cơ sở cho luận văn này. Đó là coi du ký như một thể tài của văn học. Bản thân du ký là một thể loại đ c biệt, mang trong mình đ c trưng tổng hợp kiến thức của nhiều ngành, là sự giao thoa gi a văn học và báo chí do đó để nghiên cứu nó cũng cần có nh ng phương pháp riêng. Thời điểm ra đời của du ký hiện đại chúng tôi cho là gắn liền với sự ra đời của báo chí, đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự thay đổi trong nội tại thể tài du ký cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật (chúng tôi sẽ lần lượt làm rõ trong chương 2 và chương 3 dưới đây).
Để làm rõ sự thay đổi đ c biệt này chúng tôi chọn hai tác phẩm của giá trị tiêu biểu của giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX để thấy sự biến chuyển trong thể loại, đó là Thượng kinh ký sự của Lê H u Trác và Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Nh ng tiền đề về điều kiện ra đời, mối quan hệ và đ c trưng của thể tài ký cũng như hoàn cảnh sáng tác, xuất thân tác giả mà chúng tôi đã trình bày trong chương này sẽ là cơ sở để phân tích các m t giống, khác nhau cũng như chỉ ra sự thay đổi hay phát triển của thể tài du ký trong dòng chảy văn học Việt Nam. SỰ THAY ĐỔI CỦA ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TỪ DU KÝ TRUNG ĐẠI ĐẾN DU KÝ ĐẦU THẾ KỶ XX QUA THƯỢNG KINH KÝ SỰ VÀ MƯỜI NGÀY Ở HUẾ Trước khi du ký xuất hiện, Văn học Việt Nam đã t n tại một số tác phẩm dưới dạng ghi chép về sự kiện mắt thấy tai nghe, bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của tác giả trong nh ng chuyến du công. Qua sưu tầm và khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ du ký xuất hiện đầu tiên vào đầu thế kỉ XIX trong tác phẩm Tam Kiều nguyệt dạ du ký (1805) của Ngô Thị Hoàng, Tam Ngô du ký của Nguyễn Văn Siêu (?).
Nhưng nh ng năm sau đó, nhiều tác phẩm mang tính ghi chép về một cuộc hành trình cũng không gọi là du ký mà gọi là kí (Như Tây kí, (1864) của Ngụy Khắc Đản), là nhật kí (Như Tây sứ trình nhật kí (1864) của Phạm Phú Thứ, Tây phù nhật kí (1865) của Tôn Thọ Tường), ho c là kỉ lược (Tây hành kiến văn kỉ lược (1831) của Lý Văn Phức) hay là chí lược (Hải trình chí lược (1834) của Phan Huy Chú) ho c không k m tên thể loại (Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký). Khi du ký xuất hiện trở lại ở Việt Nam vào đầu thế kỉ thế kỉ XX, từ “du ký” được gọi trở lại (Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác). M c dù vậy, từ "du ký" lúc này đang còn xa lạ với mọi người, nhất là khi nền lí luận và phê bình văn học nước ta đang còn trong giai đoạn sơ khai, nhiều lí thuyết văn học chưa xuất hiện. Đến năm 1923, Nguyễn Trọng Thuật gọi “kí sự” là “du ký”, khi dịch Thượng kinh kí sự của Lê H u Trác ra ch Quốc ng với tiêu đề: Một tập du ký của cụ Lãn Ông (đăng nhiều kì trên Nam Phong).
Đến năm 1929, trên tạp chí Phụ nữ Tân văn xuất hiện thiên du ký của Đào Trinh Nhất với bút danh là Phạm Vân Anh có thêm phụ đính cho tựa đề là "tập du ký của một cô thiếu n ". Từ năm 1930 trở về sau, nh ng tên thể loại như: "du ký", "l kí" đã lần lượt xuất hiện trên một số tạp chí như Tri Tân, Phụ n Tân văn, Thanh Nghị,. khi đứng trước các tiêu đề để chỉ thể loại cũng như các thể loại khác: tiểu thuyết, tiểu thuyết tàu, truyện ngắn, thơ,. 21 N a đầu thế kỉ XX, người viết nhiều bài du ký nhất giai đoạn này là Phạm Quỳnh đã nói lên quan niệm của mình về du ký.
ng cho rằng bài văn được gọi là du ký phải gắn liền cuộc đi xa, dài ngày : “Đi sang Tây, sang Tàu, đi Phú Xuân, đi Đồng Nai, gọi là cuộc "du lịch", trở về viết bài "du ký", còn do khả ; chớ đi tỉnh nọ sang tỉnh kia mà nói "du lịch" với "du ký" thì tưởng cũng khí quá vậy” (Nam Phong, số 96, tr. Như vậy, nh ng bài viết sau cuộc đi tham quan phong cảnh tỉnh này, tỉnh kia không gọi là du ký mà gọi là văn thuật sự đi chơi, thuộc loại văn kỉ sự. Nó về văn kỉ sự, theo Phạm Quỳnh: “… không phải là văn khảo cứu, nhà văn càng phải nên phân biệt lắm. Văn kỷ sự là cứ 12 sự thực mà thuật lại, cốt lấy tự nhiên giản dị, ngoài sự thực có thể điểm chút cảm tưởng riêng, cũng là do sự thực mà phát ra, càng có cái vẻ thật thà mới mẻ lại càng hay, bất tất phải bàng sư bác tập, điển cố xa xôi làm gì” [52, tr.
Theo tác giả Phạm Quỳnh, từ kỉ sự ( ) và kí sự ( ) có nghĩa tương đ ng, đều cùng chỉ ghi chép sự việc theo thứ tự thời gian, nhưng ở từ kỉ sự ( ) nhấn mạnh đến tính phép tắc của văn chương. Cách gọi tên cho các bài viết sau chuyến du lịch của Phạm Quỳnh không có thêm sự trao đổi, bàn cãi nào trên báo chí thời bấy giờ. Đến giai đoạn 1930 – 1945, thuật ng này đã thống nhất. Nh ng cơ sở trên cho thấy việc xác định thi pháp du ký trung đại sang hiện đại là bài toán không đơn giản.
Để từng bước giải bài toán đó, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích sự thay đổi trên các đ c điểm về nội dung như sau: 1) Bối cảnh xã hội và lực lượng sáng tác; 2) Đề tài; 3) Cảm hứng nghệ thuật và hình tượng tác giả. Những biến chuyển về bối cảnh xã hội và các kiểu tác giả của du ký Du ký từ trung đại đến đầu thế kỷ XX là giai đoạn đánh dấu nhiều bước chuyển mình đ c biệt về m t thể loại. Sự thay đổi về bối cảnh xã hội là tiền đề cho nh ng thay đổi về nội dung và hình thức tác phẩm. Thêm vào đó, lực 22 lượng sáng tác của thể tài du ký cũng là một lực lượng đ c biệt nên nh ng yếu tố về chính trị xã hội đã dẫn tới các biến chuyển mạnh mẽ về giai cấp và tầng lớp trí thức.
Chính hai yếu tố này đã đem đến một diện mạo mới cho du ký từ trung đại đến đầu thế kỷ XX. Du ký là một thể loại văn học có nhiều chất tùy bút thường phi cốt truyện và tập trung ở việc ghi chép về các vẻ kỳ thú ở thiên nhiên, nh ng sự việc xuất hiện tại nơi mà tác giả ghé qua. Chính vì thế, cái gốc của nh ng tác phẩm du ký thành công nằm ở cảm quan, cái nhìn của người viết về cuộc sống, cụ thể là các cảm nhận, suy tưởng về cuộc đời và thế giới xung quanh. Trong các tác phẩm, chuyến đi được tác giả ghi chép lại theo dòng thời gian, đan xem cảm xúc và nh ng diễn giải về địa lý, lịch s cũng như các khám phá về nơi người viết đ t chân đến.
Xã hội Việt Nam thời trung đại được bao phủ bằng tư tưởng Nho giáo của c a Khổng sân Trình, con người sống trong lũy tre làng và gia đình truyền thống. Chính vì thế, tâm lý ngại đi xa, nhớ mong về quê nhà là tâm trạng thường g p trong các du ký trung đại xa xứ. Về chính trị, xã hội trung đại t n tại chế độ vua – tôi phong kiến, cho nên các tác giả du ký trung đại nếu viết về cuộc sống trong phạm vi nước Việt thì đều là nh ng cảnh vật lạ lùng chưa từng có ho c sự việc mà theo như Nguyễn Du từng nói “nh ng điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Trong văn học trung đại, kiểu tác giả chính là thiền sư và nhà nho.
Với sáng tác du ký, lực lượng sáng tác chính lại là nh ng quan lại có cơ hội tiếp cận, khám phá vùng đất mới, từ đó thăm thú và mở rộng thế giới quan, tích lũy kinh nghiệm. Đến đây có thể thấy với Lê H u Trác, đây là một hiện tượng đ c biệt của du ký trung đại bởi lẽ m c dù đã từng được mời ra làm quan nhưng ông lựa chọn con đường đi riêng với ngành Y. Nh ng kiến thức về thế giới quan, cái nhìn gần gũi với cuộc sống thường ngày cũng chính là lý do giúp Thượng kinh ký sự của Lê H u Trác đi sâu vào sự đối lập gi a bức 23 tranh xa hoa của triều đại phong kiến với cuộc đời khổ cực bên ngoài cánh c a kinh thành. Tuy nhiên, nói một cách thực tế, Lê H u Trác vẫn từng làm quan cho nên ông vẫn nằm trong lực lượng sáng tác chủ yếu của thể tài du ký trung đại.
M t khác, do nh ng đ c điểm về thời đại mà Thượng kinh ký sự được viết bằng ch Hán – cũng là ngôn ng chính trong các tác phẩm du ký trung đại khác. Đây cũng là đ c điểm cho thấy sự thay đổi mạnh mẽ và rõ nét trong thể tài du ký từ trung đại đến đầu thế kỷ XX. Bản thân ch Hán đã mang trong mình nh ng đ c điểm về văn hóa, nó không chỉ đại diện cho một thời đại chính trị mà còn biểu trưng cho nh ng giá trị tư tưởng. Có thể nói, trong hành trình phát triển của thể loại, du ký trung đại là một giai đoạn văn học cổ.
Đây cũng là tiền đề đầu tiên giúp chúng tôi có cơ sở để phân biệt nó với du ký hiện đại sau này. Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX là giai đoạn hoàng kim của văn chương nghệ thuật, ghi nhận sự lên ngôi của thể ký. Trong đó Thượng kinh ký sự của Lê H u Trác về bản chất không phải là nh ng thiên du ký thuần nhất với tất cả nh ng đ c trưng thi pháp của thể tài này.