Chương 1. Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.
Khái niệm trƣờng đại học công lập và quản lý nhà nƣớc đối với đại học công lập 1. Khái niệm trường đại học công lập Để làm rõ khái niệm trường đại học công lập cần làm rõ 3 thuật ngữ có liên quan là: cơ sở giáo dục đại học, trường đại học và đại học. Theo khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học 2012: “cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”. Cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật Trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học) là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học ( khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học 2012).
Như vậy, nội hàm thuật ngữ “trường đại học” hẹp hơn nằm trong phạm vi cơ sở giáo dục đại học. Căn cứ vào quy định trên, trường đại học được hiểu bao gồm: trường đại học và các học viện; không bao gồm các đại học quốc gia, đại học vùng (ví dụ như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Thái Nguyên…) Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. 10 Theo từ điển tiếng Việt: “Đại học là bậc học trên trung học, dưới cao học” [33]. Như vậy đại học được hiểu là trình độ đào tạo và người học đài học khi ra trường được cấp bằng cử nhân, kĩ sư.
Sau đại học là trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Trong các trường đại học hiện nay đào tạo từ trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học. Có trường đào tạo cả 3 trình độ, có trường đào tạo đại học và sau đại học, có trường đào tạo sau đai học (ví dụ Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Khoa học xã hội). Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình sau đây: Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất.
Ngoài ra Ngoài ra có trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài trong đó có 100 vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc. liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Như vậy trường đại học Việt Nam chia làm hai loại: trường đại học công lập và trường đại học tư thục. Về khái niệm đại học công lập: Theo bách khoa toàn thư của Việt Nam thì Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, được quản lý toàn diện mọi hoạt động bởi cơ quan quản lý của Nhà nước.
Đại học công lập khác với đại học tư thục hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng và được thành lập, quản lý hoạt động bởi các cá nhân là chủ đầu tư của trường [30]. 11 Ở một góc độ khác, Trường đại học công lập được định nghĩa là một cơ sở giáo dục và nghiên cứu, công nhận bằng cấp học thuật ở tất cả các trình độ (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Trường đại học công lập được nhà nước, bao gồm trung ương và địa phương cấp kinh phí hoạt động. Nó thường được quản lý bằng một hội đồng giáo dục đại học hoạt động theo quy định của chính phủ [30].
Như vậy, trường đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi. Từ sự phân tích trên có thể thấy, trường đại học công lập và tư thục có những điểm giống và khác nhau cơ bản. Điểm giống nhau: đại học tư thục và trường đại học công lập đều là tổ chức cơ sở trong hệ thống giáo dục đại học. Vì vậy, điều kiện, trình tự thủ tục thành lập trường như nhau do Bộ giáo dục và Đào tạo thẩm định.
Mọi tổ chức và hoạt động động cơ bản của trường như: Đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hoạt động dịch vụ khác đều phải tuân theo quy chế chung do bộ GD&ĐT và các Bộ, ngành khác quy định đều trên cơ sở pháp luật. Và về cơ bản với sản phẩm đầu ra là giáo dục nên hoạt động của trường đều dựa trên nguyên tắc không vụ lợi. Văn bằng của trường đại học tư thục có giá trị tương đương như văn bằng công lập. Sự khác nhau cơ bản: Một là, về sở hữu: Trường Đại học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Chính vì vậy, chủ sở hữu ở các trường này là của nhà nước, của toàn dân. Còn trường đại học tư thục là do các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức, cá nhân đứng ra thành lập, chủ sở hữu là các cổ đông, các nhà sáng lập. 12 Hai là, về tài chính: Nguồn ngân sách của các trường đại học công lập lấy trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước, mà ngân sách có được chủ yếu từ thuế của công dân đóng góp. Còn các trường đại học tư thục nguồn tài chính được lấy từ nguồn ngoài ngân sách, do các nhà đầu tư trực tiếp đóng góp.
Tuy nhiên, cần lưu ý Nhà nước tuy không trực tiếp lấy từ nguồn ngân sách để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ngoài công lập nhưng nhà nước đã dùng chính sách kinh tế khác để gián tiếp đầu tư, như chính sách: miễn giảm thuế, ưu đãi lãi suất tín dụng đầu tư; giảm thuế thu nhập; miễn thuế trước bạ và quyền thuê đất,… Nhờ đó mà các trường đại học tư thục tăng kinh phí xây dựng cơ sở vật chất. Mặt khác, nhà nước lại có những chính sách xã hội hóa đầu tư tài chính cho các trường công lập trên cơ sở tự chủ, tự chịu trác nhiệm về các hoạt động của mình. Trong đó, điểm quan trọng nhất là tự hạch toán cân đối về tài chính, không còn được nhà nước bao cấp như trước đây. Điều này đã một phần thể hiện sự bình đẳng giữa các trường công lập và ngoài công lập.
Ba là, về tổ chức nhân sự: Trường đại học công lập có Hội đồng trường. Chủ tịch Hội đồng trường do đại diện của các phòng, các khoa và các đơn vị trong nhà trường bầu ra. Hiệu trưởng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm (có thể là Bộ trưởng bộ chủ quản hoặc Chủ tịch tỉnh). Còn các trường đại học tư thục thì có Hội đồng quản trị.
Chủ tịch Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra; Hiệu trưởng do Hội đồng quản trị đề xuất và được BGD&ĐT hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định công công nhận. Về thuật ngữ quản lý nhà nước , xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, là công cụ của nhà nước trong quản lý xã hội, là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước của các 13 cơ quan nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân. Thuật ngữ QLNN được sử dụng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận nhất định.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập Về thuật ngữ QLNN, theo khoa học quản lý công và luật học hiện có hai cách hiểu phổ biến: Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đó là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế văn hóa - xã hội theo đường lối quan điểm của Đảng cầm quyền Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đó là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các CQHCNN từ trung ương đến cơ sở tiến hành, nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu của con người.