Chương 1: Tổng quan các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nước ngoài Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nước ngoài tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Chương 3: Kiến nghị các giải pháp cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NƢỚC NGOÀI TẠI CHDCND LÀO Với vị trí địa lý và mối quan hệ lịch sử đặc biệt, hai nƣớc Lào và Việt Nam thiết lập mối quan hệ truyền thống từ lâu đời và ngày càng phát triển vững mạnh trên mọi phƣơng diện về kinh tế, văn hoá, an ninh chính trị và quốc phòng.
Hiện nay, Chính phủ hai nƣớc đang chú trọng nâng quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá song phƣơng lên một tầm cao mới. Trong lĩnh vực ngân hàng tài chính, sự hợp tác phát triển trong lĩnh vực ngân hàng nói chung, hoạt động của các 7 ngân hàng nƣớc ngoài tại Lào nói riêng, đã có những bƣớc tiến hết sức đáng kể trong thời gian vừa qua, và càng trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn tới, xuất phát từ những lý do sau: Thứ nhất, phát triển hợp tác lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ mạnh mẽ và có hiệu quả sự phát triển các hoạt động kinh tế giữa hai quốc gia. Hoạt động ngân hàng giúp cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, các dự án đầu tƣ, các hoạt động trao đổi thƣơng mại hiệu quả hơn, đặc biệt là các doanh nghiệp và dự án của Việt Nam đã và đang thực hiện trên đất nƣớc Lào. Việt Nam là một trong 3 quốc gia luôn dẫn đầu trong đầu tƣ vào Lào từ sau đổi mới.
Hiện tại, Việt Nam đang xếp thứ hai về giá trị đầu tƣ vào Lào sau Trung Quốc. Với Việt Nam, Lào là địa bàn mà Việt Nam thực hiện đầu tƣ nƣớc ngoài nhiều nhất. Giao thƣơng giữa Lào và Việt Nam tăng trƣởng nhanh với giá trị 1,1 tỷ USD trong giai đoạn 2006-2012. Dự kiến kim ngạch ngoại thƣơng hai chiều Việt - Lào đến năm 2015 đạt 2 tỷ USD và tiến tới đạt 5 tỷ USD vào năm 2023 [7].
Khi các ngân hàng nƣớc ngoài (mà cụ thể là các ngân hàng của Việt Nam) phát triển hoạt động trên lãnh thổ Lào, các doanh nghiệp của Việt Nam sẽ dễ tiếp cận với các hỗ trợ về vốn, thanh toán, các dịch vụ uỷ thác… hơn so với các ngân hàng không phải của Việt Nam. Vấn đề thông tin bất cân xứng (asymetric information) và chi phí giao dịch (transaction cost) trong giao dịch ngân hàng đƣợc giảm thiểu. Thứ hai, các Ngân hàng nƣớc ngoài, mà cụ thể là các ngân hàng Việt Nam cũng tận dụng đƣợc các lợi thế và cơ hội phát triển từ sự hợp tác chặt chẽ lâu dài đã có trong lịch sử giữa hai quốc gia. Với sự hiểu biết về thị trƣờng Lào, khả năng tận dụng nhân lực Lào đã và đang học tập ở Việt Nam trên các cấp đại học, cao học, thậm chí là bậc tiến sĩ, các ngân hàng Việt Nam đang có những lợi thế tƣơng đối so với các Ngân hàng thƣơng mại ở các quốc gia khác khi phát triển các chi nhánh của mình hoạt động trên thị trƣờng Lào.
Hơn thế nữa, Lào là một thị trƣờng rất tiềm năng, với những cơ hội phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới đối với khu vực ngân hàng tài chính. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam đã phát triển hoạt động quốc tế của mình bắt đầu từ thị trƣờng Lào. Thứ ba, phát triển hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng tạo điều kiện nâng mối quan hệ hợp tác giữa hai nƣớc lên tầm cao mới. Sự đổi mới và phát triển của hệ 8 thống ngân hàng Lào rất tƣơng đồng với hệ thống ngân hàng Việt Nam, Việt Nam đã giúp Lào trong việc đổi mới hoạt động ngân hàng, cũng nhƣ các hoạt động kinh tế; và nƣớc bạn cũng luôn đáp ứng sự hỗ trợ đó một cách nhiệt tình nhất.
Do đó, tăng cƣờng hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng, tập trung vào phát triển hoạt động ngân hàng nƣớc ngoài tại Lào, là cơ hội để tiếp nối những thành công trong hợp tác từ trƣớc đến nay, đảm bảo tính thống nhất và liên kết giữa hai nền kinh tế, hai xã hội, hai quốc gia. Ổn định hệ thống ngân hàng cũng là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định xã hội và chính trị, hai “tài sản vô giá” mà Việt Nam và Lào có đƣợc trong điều kiện nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội trầm trọng. Từ đó việc tìm hiểu hệ thống văn bản pháp luật Lào liên quan đến việc thành lập và hoạt động ngân hàng là một trong những vấn đề quan trọng và mấu chốt, góp phần tạo điều kiện phát triển cho hệ thống ngân hàng đang “nung nấu” ý định sang thị trƣờng Lào hoạt động. Pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ngân hàng 1.
Pháp luật về đầu tư Để thể chế hoá đƣờng lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tƣ, trong đó quy định các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tƣ trong nƣớc mà còn là các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có quyền đầu tƣ tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, hoạt động trên cơ sở của pháp luật của CHDCND Lào, nhà đầu tƣ sẽ đƣợc bảo vệ bởi pháp luật của CHDCND Lào. Trƣớc xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ, các nƣớc XHCN đã có sự chuyển đổi quan trọng để làm hoàn thiện mình cho phù hợp với tình hình mới và phù hợp với nền kinh tế của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Lào đã có chính sách hợp tác với nƣớc ngoài trong lĩnh vực kinh tế bắt đầu từ năm 1989. Chính phủ Lào đã mở cửa đón nhận việc đầu tƣ của nƣớc ngoài, cho phép nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào đầu tƣ theo ngành nghề kinh doanh do Nhà nƣớc quy định trên cơ sở quy định của pháp luật CHDCND Lào, trong đó có mở cửa lĩnh vực ngân hàng cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài [9].
Hệ thống văn bản pháp luật của Lào đƣợc ban hành một cách thống nhất trong đó cơ sở pháp lý quan trọng nhất là Hiến pháp năm 1991. CHDCND Lào thực 9 hiện chính sách mở rộng hợp tác kinh tế quốc đa phƣơng, đa dạng hoá với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng, tự do, hoà bình và cùng có lợi. Nhà nƣớc cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nƣớc đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá, và phát triển nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc cũng ban hành các văn bản pháp luật khác về công nhận đầu tƣ đối với hoạt động đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài.
Tuy nhiên, pháp luật về đầu tƣ của CHDCND Lào vẫn còn thiếu đồng bộ, nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Nhận thấy đƣợc vai trò to lớn của chính sách đầu tƣ, TW Đảng nhân dân cách mạng Lào đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của CHDCND Lào năm 2006-2010: “Thúc đẩy việc phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó quan tâm đến việc phát triển doanh nghiệp tƣ nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, tạo môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh có sự hài hòa thông thoáng, đảm bảo sự an ngoài lành mạnh và có tính cạnh tranh cao so với khu vực. Phát triển kinh doanh có quy mô trung bình và nhỏ, làm cho tài chính kinh doanh có sự ổn định vững chắc, từng bƣớc giải quyết và tiến tới việc giải quyết các khoản nợ nƣớc ngoài. Tăng vốn cho việc đầu tƣ phát triển KTXH, lập dự án đầu tƣ phù hợp, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lƣợng của quan hệ kinh tế với nƣớc ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, thu hút vốn nƣớc ngoài và thực hiện ký kết các hiệp định song phƣơng và đa phƣơng ở phạm vi cấp Nhà nƣớc, cấp địa phƣơng và trong phạm vi các doanh nghiệp với nhau.
Thể chế hoá đƣờng lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tƣ, trong đó quy định các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tƣ trong nƣớc mà còn là các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có quyền đầu tƣ tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, hoạt động trên cơ sở của pháp luật CHDCND Lào, nhà đầu tƣ sẽ đƣợc bảo vệ bởi pháp luật của CHDCND Lào. Pháp luật đầu tƣ của Lào bảo đảm tính liên thông giữa các văn bản pháp luật liên quan nhƣ Luật Doanh nghiệp Lào năm 2005, Luật phá sản Lào, Luật ngân hàng thƣơng mại Lào năm 2006, Luật đầu tƣ nƣớc ngoài Lào năm 2005, Luật khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài Lào năm 2004. trong đó Luật Doanh nghiệp Lào năm 2005 quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình và kể cả việc góp vốn của 10 các nhà đầu tƣ. Luật Khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc và Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tƣ, quy định về việc xem xét đơn xin phép đầu tƣ của các nhà đầu tƣ.
Trong từng thời điểm cụ thể, CHDCND Lào đã ban hành một số các văn bản pháp luật về công nhận đầu tƣ đối với hoạt động đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài nhƣ: Pháp luật đầu tƣ nƣớc ngoài của Lào ngày 09/04/1988 đƣợc sửa đổi bổ sung bởi Luật Khuyến khích và quản lý đầu tƣ nƣớc ngoài số 01/1994-QH ngày 14/3/1994, đƣợc Chủ tịch nƣớc Lào công bố áp dụng thông qua Sắc lệnh số 23/CTN ngày 21/4/1994; Luật Khuyến khích và quản lý đầu tƣ trong nƣớc số 03/95-QH ngày 14/10/1995 đƣợc sửa đổi, bổ sung bởi Luật Khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc số 10/QH ngày 22/10/2004; Nghị định của Thủ tƣớng Chính phủ Lào về việc quản lý đầu tƣ của Nhà nƣớc ngày 22/5/2002; Quyết định về tổ chức thực hiện Luật Khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài tại Lào ngày 22/3/2001, ngoài ra còn có một số văn bản pháp luật liên quan khác.