Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và làn sóng đổi mới sáng tạo, Việt Nam hiện có hơn 240 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phần lớn là các trường công lập đang chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình giảng dạy thuần túy sang đại học định hướng nghiên cứu và khởi nghiệp. Tuy nhiên, tính đến giai đoạn năm 2021, số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc các trường đại học công lập hoạt động hiệu quả trên cả nước mới chỉ dừng lại ở con số khiêm tốn, ước tính dưới 20 doanh nghiệp trên toàn quốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ khoảng cách lớn giữa tiềm năng nghiên cứu học thuật và năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Dù Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2017 và Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 đã chính thức mở đường cho các trường đại học công lập thành lập doanh nghiệp trực thuộc, nhưng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình này vẫn tồn tại nhiều điểm chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu hướng dẫn thi hành.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học công lập, phân tích toàn diện thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh khâu thành lập và quản trị điều hành, đồng thời nhận diện các điểm nghẽn thể chế để đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021, đối chiếu với mô hình quản trị tại các trường đại học công lập trọng điểm.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục tối ưu hóa tài sản trí tuệ, gia tăng tỷ trọng nguồn thu tự chủ từ hoạt động chuyển giao công nghệ lên mức 15% đến 30%, đồng thời tạo hành lang pháp lý an toàn cho đội ngũ nhà khoa học khi tham gia vào thị trường thương mại hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng kết hợp 3 mô hình lý thuyết nền tảng trong quản trị học thuật và luật kinh tế:

Mô hình xoắn ba Triple Helix của Henry Etzkowitz và Chunyan Zhou: Lý thuyết này giải thích mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba chủ thể Nhà nước - Trường đại học - Doanh nghiệp. Trong đó, trường đại học không chỉ dừng lại ở vai trò đào tạo nguồn nhân lực mà trở thành trung tâm sản sinh tri thức và ươm tạo công nghệ phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế.

Lý thuyết Doanh nghiệp khởi nguồn học thuật (Academic Spin-off Theory) của Roberts và Malone (1996) cùng nghiên cứu mở rộng của Lockett (2005): Khung lý thuyết này phân tích cơ chế chuyển giao công nghệ và vốn hóa tài sản tri thức từ phòng thí nghiệm của cơ sở đào tạo sang pháp nhân doanh nghiệp độc lập nhằm mục tiêu thương mại hóa.

Lý thuyết Doanh nghiệp trực thuộc trường đại học (University-Run Enterprises - UREs) của Eun, Lee và Wu (2006): Mô hình giải thích đặc thù của các doanh nghiệp hoạt động theo quan hệ công ty mẹ - con dưới sự bảo trợ và quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập tại các quốc gia đang phát triển.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Theo khoản 1 Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, đây là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hóa từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
  • Cơ sở giáo dục đại học công lập: Đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018.
  • Quyền tự chủ đại học: Quyền tự quyết định của cơ sở giáo dục đại học trong các hoạt động chuyên môn, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và tài sản công theo quy định pháp luật.
  • Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Quá trình chuyển giao, ứng dụng và kinh doanh các sáng chế, giải pháp hữu ích ra thị trường nhằm tạo doanh thu và giá trị kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện thông qua việc rà soát 100% các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, bao gồm hơn 12 đạo luật và nghị định chủ chốt như Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018, Luật Viên chức sửa đổi 2019, Luật Quản lý sử dụng tài sản công 2017, Luật Đầu tư công 2019, cùng các Nghị định số 13/2019/NĐ-CP và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Dữ liệu thực tiễn được đối chiếu từ 5 cơ sở giáo dục đại học công lập lớn tại Việt Nam có triển khai mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ hoặc tổ chức nghiên cứu chuyển giao, tiêu biểu như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tập trung vào các trường đại học công lập thuộc nhóm tiên phong tự chủ và có số lượng công bố khoa học, bằng sáng chế lớn nhất cả nước. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê tổng hợp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì đề tài mang tính chất liên ngành sâu sắc giữa Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Luật Giáo dục; việc phân tích quy phạm cho phép chỉ rõ các xung đột kỹ thuật lập pháp, trong khi phương pháp so sánh làm nổi bật bài học quốc tế từ các mô hình thành công. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 3 năm, tập trung phân tích biến động chính sách từ sau khi Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 có hiệu lực đến hết năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, rào cản từ điều kiện cấp chứng nhận và tỷ lệ doanh thu sản phẩm khoa học công nghệ: Nghị định số 13/2019/NĐ-CP quy định doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải đạt tỷ lệ doanh thu từ sản xuất, kinh doanh sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu tối thiểu 30% trên tổng doanh thu. Dù các doanh nghiệp mới thành lập dưới 5 năm được tạm miễn điều kiện này, nhưng khảo sát thực tế cho thấy hơn 70% doanh nghiệp spin-off trong trường đại học gặp khó khăn sau mốc 5 năm do chu kỳ hoàn thiện công nghệ sâu thường kéo dài từ 3 đến 7 năm.

Thứ hai, mâu thuẫn sâu sắc về cơ chế nhân sự và quản trị điều hành của viên chức: Khoản 3 Điều 14 Luật Viên chức sửa đổi năm 2019 nghiêm cấm viên chức tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần. Trong khi đó, người sáng chế và hiểu rõ công nghệ nhất lại là các giảng viên, nhà khoa học thuộc biên chế trường. Quy định biệt phái viên chức tối đa không quá 3 năm theo Điều 36 Luật Viên chức chưa đủ dài cho một chu kỳ thương mại hóa sản phẩm, dẫn đến tình trạng hơn 85% các ý tưởng công nghệ tiềm năng bị gián đoạn khâu điều hành sản xuất.

Thứ ba, xung đột thẩm quyền phê duyệt đầu tư và sử dụng tài sản công: Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 trao quyền tự chủ tài chính cho Hội đồng trường trong việc quyết định thành lập doanh nghiệp và sử dụng nguồn thu hợp pháp. Tuy nhiên, Luật Đầu tư công 2019 (Điều 17 và Điều 39) cùng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 vẫn yêu cầu đề án liên doanh, liên kết, góp vốn bằng tài sản công phải trình Bộ chủ quản hoặc cơ quan ngang Bộ phê duyệt. Quy trình này làm kéo dài thời gian thành lập doanh nghiệp từ 12 tháng đến 24 tháng, làm mất đi cơ hội kinh doanh trên thị trường công nghệ vốn đòi hỏi tốc độ cao.

Thứ tư, bất cập trong tiếp cận chính sách ưu đãi tài chính và đất đai: Chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo (tổng chu kỳ ưu đãi 13 năm) là đòn bẩy tài chính rất tốt. Tuy nhiên, có dưới 20% doanh nghiệp trực thuộc trường đại học thụ hưởng được trọn vẹn chính sách này do thiếu thông tư hướng dẫn cụ thể về cơ chế định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách Nhà nước theo Nghị định số 70/2018/NĐ-CP.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các vướng mắc trên là do tư duy lập pháp chưa có sự đồng bộ giữa hệ thống luật chung về quản lý hành chính, viên chức, tài sản công với các đạo luật chuyên ngành mang tính cởi mở như Luật Giáo dục đại học 2018 và Luật Doanh nghiệp 2020. Trong khi các đạo luật chuyên ngành hướng tới việc thúc đẩy tự chủ và thương mại hóa, thì các luật về tài sản công và viên chức lại siết chặt cơ chế kiểm soát nhằm chống thất thoát nguồn lực nhà nước.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, tại Ý và Vương quốc Anh, cơ chế pháp lý cho phép giảng viên đại học được nắm giữ vị trí quản trị kép (dual role) tại công ty spin-off và viện nghiên cứu, kết hợp cơ chế chia sẻ lợi nhuận bản quyền sáng chế rõ ràng. Tại Trung Quốc, hệ sinh thái doanh nghiệp UREs phát triển mạnh nhờ các hướng dẫn chi tiết về việc sử dụng cơ sở vật chất của trường đại học thông qua hợp đồng thuê khoán định mức.

Dữ liệu nghiên cứu về các điểm nghẽn thể chế có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu xung đột quy phạm giữa 4 đạo luật chính và sơ đồ quy trình thương mại hóa công nghệ 5 giai đoạn: từ phát minh trong phòng thí nghiệm, đăng ký sáng chế, thành lập doanh nghiệp trực thuộc, huy động vốn đầu tư đến phân chia lợi nhuận thương mại. Bảng so sánh này minh chứng rõ nét rằng thời gian thông qua thủ tục hành chính chiếm tới hơn 40% tổng thời gian ươm tạo một sản phẩm khoa học công nghệ ra thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi quy chế kiêm nhiệm và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao: Đề nghị Quốc hội và Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn đặc thù cho phép giảng viên, nhà khoa học tại cơ sở giáo dục đại học công lập được tham gia Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và trực tiếp điều hành doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc. Đồng thời, nâng thời hạn biệt phái viên chức từ mức tối đa 3 năm lên khung 5 đến 7 năm. Lộ trình thực hiện cần hoàn thành trước quý IV năm 2023.

Thứ hai, chuẩn hóa và đơn giản hóa quy trình định giá tài sản trí tuệ: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn thống nhất phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ, kết quả nghiên cứu khoa học hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Mục tiêu là rút ngắn thời gian thẩm định tài sản góp vốn xuống dưới 45 ngày làm việc, hoàn thành hướng dẫn trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, phân cấp triệt để quyền quyết định đầu tư cho Hội đồng trường: Chính phủ cần sửa đổi các điều khoản liên quan tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng trao toàn quyền cho Hội đồng trường tự chủ nhóm 1 và nhóm 2 được phê duyệt đề án thành lập doanh nghiệp, góp vốn bằng sáng chế và thương hiệu mà không cần xin ý kiến chấp thuận từ Bộ chủ quản. Biện pháp này giúp cắt giảm thời gian thành lập doanh nghiệp từ trung bình 18 tháng xuống còn 30 ngày.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế miễn giảm thuế và hỗ trợ ươm tạo: Bộ Tài chính cần ban hành quy định rõ ràng về mốc thời gian tính ưu đãi miễn 4 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo, áp dụng linh hoạt tỷ lệ doanh thu sản phẩm khoa học công nghệ 30% theo từng chu kỳ 3 năm đối với các doanh nghiệp công nghệ cao có vốn đầu tư R&D lớn trong 7 năm đầu hoạt động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Lãnh đạo các trường đại học công lập, Hội đồng trường, Ban Giám hiệu. Luận văn cung cấp cẩm nang pháp lý đầy đủ giúp xây dựng quy chế nội bộ, thiết lập mô hình doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần trực thuộc trường, góp phần tăng nguồn thu tự chủ lên 15% đến 25%.

Nhóm 2: Giảng viên, nhà khoa học, nghiên cứu sinh và các nhóm khởi nghiệp công nghệ trong trường đại học. Công trình giúp nhóm đối tượng này nắm vững quyền lợi pháp lý, cơ chế góp vốn bằng tài sản trí tuệ, các quy định về hợp đồng biệt phái và phương thức quản trị rủi ro pháp lý khi thương mại hóa sáng chế.

Nhóm 3: Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo thực chứng với các luận cứ xác đáng để rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài sản công và doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Nhóm 4: Học viên cao học, sinh viên ngành Luật Kinh tế, Quản lý công và Quản trị đại học. Đề tài cung cấp hệ sinh thái lý thuyết hoàn chỉnh về mô hình spin-off học thuật, phương pháp tiếp cận pháp lý đa ngành và các số liệu so sánh thực tiễn hữu ích.

Câu hỏi thường gặp

Giảng viên thuộc biên chế trường đại học công lập có được làm Giám đốc điều hành doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc không?

Theo khoản 3 Điều 14 Luật Viên chức sửa đổi năm 2019 và Luật Phòng, chống tham nhũng, giảng viên là viên chức không được trực tiếp giữ chức vụ quản lý, điều hành như Giám đốc doanh nghiệp. Để điều hành, giảng viên phải thực hiện thủ tục biệt phái với thời hạn tối đa 3 năm hoặc chuyển đổi hợp đồng làm việc sang hình thức hợp đồng thuê khoán chuyên môn.

Doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc trường đại học được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào?

Theo Điều 12 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với phần thu nhập phát sinh từ sản phẩm khoa học công nghệ, với điều kiện doanh thu từ các sản phẩm này đạt tối thiểu 30% trên tổng doanh thu hàng năm.

Điều kiện để doanh nghiệp mới thành lập dưới 5 năm được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ là gì?

Doanh nghiệp mới thành lập dưới 5 năm chỉ cần đáp ứng 2 điều kiện: được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đồng thời có khả năng tạo ra hoặc ứng dụng kết quả khoa học công nghệ đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, công nhận văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc giải thưởng khoa học, mà chưa cần đạt ngưỡng tỷ lệ doanh thu 30%.

Cơ sở giáo dục đại học công lập có thể cử bao nhiêu người đại diện phần vốn góp tại doanh nghiệp trực thuộc?

Theo khoản 2 Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2020, trường đại học công lập được cử tối đa 3 người đại diện phần vốn góp nếu sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, hoặc sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông đối với công ty cổ phần.

Điểm khác biệt pháp lý cốt lõi giữa Tổ chức khoa học công nghệ và Doanh nghiệp khoa học công nghệ trong trường là gì?

Doanh nghiệp khoa học công nghệ có tư cách pháp nhân độc lập theo Luật Doanh nghiệp, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập, bắt buộc phải tạo doanh thu từ sản phẩm nghiên cứu. Ngược lại, tổ chức khoa học công nghệ thuộc trường không có tư cách pháp nhân độc lập, hạch toán phụ thuộc và hoạt động chủ yếu dựa trên ngân sách cấp phát.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, mô hình spin-off học thuật và cơ chế UREs trong trường đại học công lập.
  • Chỉ rõ 4 nhóm xung đột pháp lý trọng yếu giữa Luật Giáo dục đại học 2018 với Luật Viên chức, Luật Quản lý sử dụng tài sản công và Luật Đầu tư công.
  • Đưa ra 4 giải pháp đồng bộ về nhân sự kiêm nhiệm, cơ chế phân cấp tự chủ đầu tư, định giá tài sản trí tuệ và chính sách ưu đãi thuế 13 năm.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn giúp các trường đại học gia tăng tỷ lệ thương mại hóa sáng chế thành công từ mức dưới 10% lên trên 30%.
  • Định hình lộ trình cải cách thể chế giai đoạn 2023-2026, tạo nền tảng vững chắc cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để tháo gỡ các nút thắt pháp lý, biến các trường đại học thành động lực tăng trưởng kinh tế tri thức. Bước tiếp theo đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết trong vòng 12 đến 24 tháng tới. Hãy cùng chia sẻ, tham khảo và áp dụng các kết quả nghiên cứu này để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp khoa học công nghệ đại học tại Việt Nam.