phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương, cụ thể như sau: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 4: Giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực Con người luôn có những nhu cầu và đó là động cơ thúc đẩy mọi hoạt động, điều chỉnh hành vi của họ trong xã hội.
Động cơ được xác định là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thôi thúc cá nhân có động cơ hướng tới mục đích. Nếu động cơ là yếu tố bên trong quyết định thì động lực là yếu tố biểu hiện ra bên ngoài nhằm thực hiện động cơ đó. Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về động lực. Theo quan điểm của các học giả trên thế giới thì “Động lực” được hiểu theo Maier và Lawder (1973) “Động lực là sự khác biệt và tự nguyện của mỗi cá nhân”.
Theo Higgin (1994) “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thoả mãn. Theo Kreitner (1995) “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi các nhân theo mục đích nhất định”. “Động lực” theo từ điểm Tâm lý học “Động lực là cách thúc đẩy hành động gắn liền với việc thoả mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định xu hướng của nó”. Theo Bùi Anh Tuấn (2005) “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Như vậy, từ các quan điểm trên ta có thể hiểu một cách chung nhất như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, động viên, khuyến khích con người nỗ lực cao nhất để thực hiện hành vi theo mục tiêu. Khái niệm về tạo động lực làm việc Để có được động lực làm việc cho người lao động thì không còn cách nào hết đó chính là phải tạo động lực làm việc cho người lao động để từ đó mới có thể khuyến khích, động viên, thôi thúc họ luôn nỗ lực, phấn đấu hết mình vì tổ chức. 6 Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của mỗi tổ chức, các nhà quản lý muốn tổ chức mình phát triển thì phải biết phát huy khả năng yếu tố con người trong tổ chức, phát huy sự sáng tạo trong quá trình làm việc. Một cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì phải có đội ngũ CBCC luôn nỗ lực làm việc vì công việc.
Để đạt được những điều đó người lãnh đạo phải chú trọng đến việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ CBCC. Theo Lương Văn Úc (2011), “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, cá nhân, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức”. Theo Bùi Anh Tuấn (2005) “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc”. Như vậy có thể khái quát chung về động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là sự thúc đẩy từ bên trong chủ thể hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể khiến họ tự nguyện nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức.
Mục đích và vai trò của việc tạo động lực làm việc 1. Mục đích của tạo động lực làm việc Làm cho tổ chức sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả nhất, giúp tổ chức đạt mục tiêu đề ra. Khuyến khích, thúc đẩy người lao động làm việc sáng tạo, hiệu quả. Giúp tổ chức giữ chân nhân viên giỏi đang làm việc và thu hút thêm nhân tài đến với tổ chức.
Vai trò của việc tạo động lực làm việc Động lực làm việc ảnh hưởng quan trọng đối với hiệu quả làm việc của mọi tổ chức, nhất là các cơ quan hành chính Nhà nước, việc tạo động lực làm việc cho người lao động là mối quan tâm của mọi cơ quan, tổ chức bất kể tổ chức trong khu vực công, hay khu vực tư nhân. Việc tạo động lực cho người lao động nhằm khơi gợi sự đam mê, khuyến khích khả năng làm việc để người lao động nỗ lực hết mình 7 để phát huy khả năng của bản thân. Đặc biệt, trong khu vực Nhà nước, CBCC Nhà nước là những người được giao trọng trách thực thi công vụ để thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Động lực có ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cá nhân, tổ chức.
Điều này luôn luôn đúng đối với mọi tổ chức nhưng đối với các cơ quan Nhà nước thì càng phải chú trọng hơn, vì việc đảm bảo sự hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ CBCC trong thực thi công vụ, vì xét đến cùng cho dù chính sách, pháp luật có tốt đến đâu nhưng khi thực thi ra thực tế mà những người được giao trọng trách thực thi quyền lực đó lại thực thi không tốt thì sẽ không thể mang lại hiệu lực, hiệu quả cao nhất, không thể được sự kỳ vọng, tin yêu của nhân dân. Động lực làm việc trong tổ chức được phát huy sẽ giúp tổ chức sử dụng hiệu quả tài lực, vật lực tạo đà cho sự phát triển lâu dài, vững mạnh, xây dựng được văn hoá công sở lành mạnh, chuyên nghiệp. Trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước hoạt động dựa vào ngân sách Nhà nước do tiền thuế của nhân dân đóng góp, nếu hoạt động thiếu động lực làm việc sẽ gây hệ luỵ khôn lường khiến bộ máy Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, lãng phí các nguồn lực gây mất niềm tin của nhân dân. Tạo động lực làm việc giúp các thành viên trong xã hội có cuộc sống tốt hơn vì các nhu cầu của họ có khả năng đáp ứng một cách tối đa; Tạo động lực gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn dựa vào sự phát triển của cá nhân, tổ chức vì mỗi cá nhân hay tổ chức là thành viên của xã hội; mặt khác, tạo động lực làm việc giúp cá nhân trong xã hội đạt được mục tiêu mà mình đặt ra từ đó hình thành nên giá trị xã hội mới; Tạo động lực làm việc góp phần xây dựng văn hoá tổ chức, nâng cao uy tín, thương hiệu của tổ chức; Tạo động lực làm việc sẽ khai thác được tối ưu khả năng của người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức; Tạo động lực làm việc giúp người lao động không ngừng phấn đấu hoàn thiện mình hơn và phát huy tính sáng tạo của người lao động.
Trong một tổ chức dù có nhiều người lao động có năng lực, trình độ cao nhưng chưa chắc sẽ làm cho tổ chức phát triển lên được, nhưng một tổ chức biết tạo động lực cho người lao động làm việc hăng say, cống hiến hết mình cho tổ chức thì 8 chắc chắn tổ chức đó sẽ phát triển và đạt được hiệu quả tối ưu trong công việc. Đặc biệt trong khu vực Nhà nước, CBCC là người cụ thể hoá các chính sách, pháp luật của nhà nước có ý nghĩa quan trọng đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước. Các học thuyết về tạo động lực làm việc trong tổ chức 1. Thuyết về hệ thống thức bậc các nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân.
Nhu cầu của cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng được nhu cầu đó cũng rất phức tạp. Maslow nhấn mạnh rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Tháp nhu cầu của Maslow Theo lý thuyết này nhu cầu con người xuất hiện theo thứ bậc từ thấp đến cao. Khi nhu cầu thấp được thỏa mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện.
Ban đầu là các nhu cầu về mặt sinh lý, tiếp theo là các nhu cầu về an toàn, xã hội, nhu cầu tôn trọng và tự hoàn thiện bản thân mình. Nhu cầu sinh lý: nằm ở cấp thấp nhất trong hệ thống. Đây là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng để thỏa mãn trước tiên. Bởi nó là nhu cầu duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể nó bao gồm các yếu tố: ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi, duy trì nòi 9 giống… các nhu cầu này xuất hiện sớm nhất, nó chi phối những mong muốn của con người, do đó con người sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn rồi để đạt những nhu cầu cao hơn Nhu cầu an toàn: đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn.
Ở mức nhu cầu này con người sẽ có những phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân, người lao động sẽ không thích làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà thích được làm việc trong những điều kiện an toàn. Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được quan hệ với người khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc, hiệp tác. Hay nói cách khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp. Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận.
Con người luôn có nhu cầu yêu thương, gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Khi nhu cầu xã hội trở nên nổi trội, con người sẽ cố gắng xây dựng những quan hệ tốt đối với những người xung quanh mình.