CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm về thuế Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, lần lượt từ công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoại trừ hình thái công xã nguyên thuỷ chưa xuất hiện giai cấp, còn đặc trưng của các hình thái kinh tế xã hội khác là có giai cấp.
Giai cấp xuất hiện gắn liền với nảy sinh mâu thuẫn quyền lợi xã hội giữa các giai cấp trong xã hội và các mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết bằng đấu tranh giai cấp. Từ đó, nhà nước - đại diện quyền lợi của một giai cấp nhất định - được ra đời. Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên tài chính, đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp. Quyên góp thường được vận động dựa vào một sự kiện nào đó, chủ yếu kêu gọi lòng yêu nước, lòng nhân đạo, lòng hảo tâm của người tham gia.
Kết quả mang lại từ phương thức này thường không lớn và cũng không tiến hành thường xuyên được. Vay của dân dưới hình thức nhà nước bán công trái, trái phiếu,. là những hoạt động tài chính cần thiết để tăng nguồn lực của nhà nước nhưng thường chỉ dùng trong phát triển kinh tế nhằm mang lại hiệu quả để đảm bảo nhà nước có điều kiện trả cả vốn lẫn lãi cho dân chúng. Không một nhà nước nào dựa vào vay của dân để đơn thuần phục vụ chi tiêu bộ máy cai trị của mình.
Do vậy, để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để ban hành pháp luật, ấn định và bắt buộc các thể nhân, Luan van 7 pháp nhân phải đóng góp cho nhà nước một phần của cải mà họ làm ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Ban đầu các thể nhân và pháp nhân nộp thuế cho nhà nước bằng hiện vật. Hình thức thu nộp thuế này dần dần bộc lộ những nhược điểm trong quá trình quản lý thu nộp như về sổ sách, kho tàng, bảo quản, chi tiêu,. Cùng với sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá thì đồng tiền ra đời, người ta nhận thấy rằng nếu dùng tiền để nộp thuế rồi chi tiêu thì tiện lợi vô cùng.
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế. Mặt khác, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Như vậy nhân tố thứ hai sau nhà nước làm tiền đề cho sự ra đời của đời của thuế chính là sự ra đời và phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của tiền tệ.Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu tiền”.Ăng ghen đã chỉ rõ “Đặc trưng thứ hai của nhà nước là sự thiết lập một trật tự công cộng. Để duy trì quyền lực công cộng đó cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế má”.Lênin cho rằng “Thuế là cái nhà nước thu của dân mà không bù lại”.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,. buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định”. Như vậy, tuỳ theo góc độ đề cập, quan niệm về thuế còn khác nhau. Điểm chung của các quan niệm này là hoặc mới chỉ nêu được những yếu tố cơ bản của thuế hoặc mới chỉ coi thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ bắt buộc.
Dưới một góc nhìn mới về thuế, chúng ta thấy rằng, việc các tổ chức, cá nhân nộp thuế cho nhà nước không phải chỉ để thực hiện nghĩa vụ được Luan van 8 quy định trong Hiến pháp, nộp thuế còn là quyền lợi của mọi người dân trong xã hội. Vì thông qua việc nộp thuế, các tổ chức, cá nhân thể hiện quyền được đóng góp theo nghĩa vụ cho nhà nước, quyền được tiếp tục hoạt động kinh doanh và hưởng những dịch vụ công cộng mà xã hội đem lại. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các nhận thức trên về thuế, có thể coi thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc không được hoàn trả trực tiếp, được nhà nước quy định thành luật để mọi người dân và các tổ chức kinh tế thực hiện nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước. Cũng có thể hiểu, thuế là một hình thức động viên, phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân tạo ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Với nhận thức như vậy, có thể nhìn nhận thuế với các hình thức phân phối khác ở những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, thuế là một hình thức động viên tài chính của nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lý. Thuế do và chỉ do cơ quan quyền lực nhà nước quy định. Thông qua hệ thống pháp luật thuế, cơ quan quyền lực bắt buộc đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thứ hai, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Mức thuế mà các tổ chức, cá nhân đóng góp cho nhà nước và mức độ cung cấp thông tin hàng hoá, dịch vụ công cộng mà nhà nước đem lại cho người nộp thuế không nhất thiết phải ngang bằng nhau. Mức đóng góp được căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, cam kết trong hội nhập kinh tế quốc và nhu cầu chi tiêu chung của xã hội. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải bằng khoản thuế mà họ nộp - không mang tính đối giá (khác với phí, lệ phí - có tính chất đối giá). Luan van 9 Thứ ba, thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế (mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, .), thể chế chính trị, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc xác lập một hệ thống thuế với các loại thuế suất khác nhau trước hết bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu của nhà nước, tuy nhiên mức động viên qua thuế bao giờ cũng chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, xã hội của một quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử như: thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó cũng như chính sách, cơ chế quản lý nhà nước. Một hệ thống chính sách thuế gồm nhiều sắc thuế khác nhau, mỗi sắc thuế có một mục tiêu, tác dụng và chức năng riêng. Do đó người ta sử dụng nhiều sắc thuế để bổ sung, hỗ trợ nhau đảm bảo phát huy mạnh mẽ hiệu quả của toàn bộ hệ thống thuế. Một sắc thuế bao giờ cũng được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản là tên gọi, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, các quy định về thủ tục nộp thuế và tổ chức thực hiện.
Có nhiều cách để phân loại thuế: */ Nếu căn cứ theo tính chất chuyển dịch của thuế: có thể chia thuế thành 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. + Thuế trực thu: tiêu thức để xác định các sắc thuế trong hệ thống thuế vào loại trực thu là tính chất đồng nhất giữa người nộp thuế theo luật và người chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế, tức là người nộp thuế và người chịu thuế là một. Ở những sắc thuế thuộc loại này không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế cho các đối tượng khác chịu tại thời điểm đánh thuế. Bao gồm các sắc thuế: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp,.
- Thuế gián thu: tiêu thức để xác định các sắc thuế trong hệ thống thuế vào lọai thuế gián thu là tính không đồng nhất giữa người nộp thuế theo luật và người chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Thực chất ở các sắc thuế này người Luan van 10 nộp thuế theo luật có tính chất danh nghĩa, chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản do mình cung cấp. Các sắc thuế thuộc loại thuế gián thu là thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,. */ Nếu căn cứ trên cơ sở đánh thuế, có thể chia thuế thành 3 loại: - Thuế tiêu dùng, là loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được tiêu dùng trong hiện tại, như thuế GTGT, thuế XK, thuế NK, thuế tiêu thụ đặc biệt,.
- Thuế thu nhập, là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập thực tế kiếm được của các tổ chức, cá nhân, như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. - Thuế tài sản, là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản lưu giữ hay chuyển dịch, như chuyển dịch quyền sử dụng đất,. Tóm lại, mỗi sắc thuế đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Tuỳ theo đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội, phong tục tập quán,.
mà mỗi quốc gia hoạch định và ban hành một hệ thống chính sách thuế phù hợp, nhằm vào một số mục tiêu chính là phải sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao công cụ thuế để đáp ứng nhu cầu chi của NSNN và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia đề ra. Những vấn đề cơ bản về thuế xuất nhập khẩu a. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Cho đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế XK, thuế NK. Theo một số tài liệu của các nước, thuế XK, thuế NK thường có tên gọi chung là thuế quan (customs duty).