CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu học tập của gia đình trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay với tư cách là động lực thúc đây gia đình học tập, nâng cao nhận thức, góp phần tạo ta của cải vật chất cho chính gia đình mình va cho sự ph6n vinh của toàn xã hội nên cần thiết phải điểm qua các nghiên cứu đã được tiễn hành trong và ngoài nước về vấn đề nhu cầu cũng như nhu cầu học tập. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 1. Nghiên cứu về nhu cầu - Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý chi phối một cách mạnh mẽ đời sống tâm lý cũng như hành vi của con người được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như quản lý, kinh doanh, giáo dục.
Trong tâm lý học phương Tây, vấn đề nhu cầu được khá nhiều công trình nghiên cứu dé cập tới, trong đó có thé kế đến một số lý thuyết tiêu biểu sau: + Lý thuyết bản năng về nhu cầu: Đại diện tiêu biểu cho thuyết này là trường phái Phân tâm học do bác sĩ thần kinh người Áo S.Freud sáng lập với quan điểm cho rằng tâm lý con người bao gồm 3 khối: cái Nó (cái Vô thức- Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu tôi (Super Ego). Cái Nó bao gồm các bản năng vô thức: ăn uống, tình dục, tự vệ, trong đó bản năng tinh duc (libido) giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người, cái Nó tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn. Cái Tôi - con người thường ngày, con người ý thức, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực. Cái Tôi có ý thức theo Ereud là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài 6 của nhân lõi bên trong là cái Nó; cái Siêu tôi- là cái siêu pham, “cái tôi lí tưởng” không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép.
Phân tâm học đề cao bản năng vô thức, phủ nhận ý thức, phủ nhận bản chất xã hội lịch sử của tâm lí nguoi. + Ly thuyết phân cấp nhu cau: A.Maslow (1908- 1966), một nhà tâm lý theo trường phái tâm lý học nhân văn là tác giả của thuyết này.Freud đề cao cái vô thức đặc biệt là bản năng tình dục của con người, A.Maslow cố gắng lý giải và chứng minh rằng tính xã hội nằm ngay trong chính bản tính của con người. Ông phân nhu cầu của con người thành 5 loại theo thang bậc từ thấp đến cao: 1. nhu cầu sinh lý, 2.
nhu cầu an toàn, 3. nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận, 4. nhu cầu được tôn trọng, 5. nhu cầu hiện thực hóa cái tôi.
Hệ thống nhu cầu của con người được xác định theo sơ đồ hình tháp, trong đó các nhu cầu cơ bản và ở cấp thấp nằm ở dưới đáy còn các nhu cầu ở cấp cao hơn nam ở trên đỉnh thang. Quá trình hình thành các nhu cầu tuân theo nguyên tắc: trước khi các nhu cầu bậc cao phát huy vai trò động lực thì bản thân các nhu cầu bậc thấp (sinh học) ở con người cần phải được thỏa mãn và chỉ khi chúng được thỏa mãn, tính cấp bách của chúng giảm di thì những động cơ bổ sung của hoạt động là các nhu cầu ở trình độ tiếp theo mới xuất hiện. Đánh giá về lý thuyết của Maslow nhà tâm lý học người Nga B. Lomov trong cuốn Những vấn dé lý luận và phương pháp luận tâm lý học cho rằng "Tháp Maslow" bao gồm cả những nhu cầu có nguồn gốc sinh hoc và xã hội, thế nhưng "đặc điểm của các mức độ nêu trên hết sức vô định hình.
Điều đó nảy sinh do Maslow đưa ra nhu cầu của một cá nhân trừu tượng, tách nó ra khỏi hệ thống quan hệ xã hội, đặt nhu cầu cá nhân năm ngoài mối liên hệ với xã hội". Và cũng theo Lomov thì lý thuyết này chưa lí giải được "trong những điêu kiện xã hội nào nhu câu đó được thỏa mãn và những nguyên nhân chuyên tiếp nào từ mức độ này sang mức độ khác. ông không khắc phục sự đối kháng giữa cá nhân và xã hội được phô biến trong tâm lý học phương Tây" lúc đó. Mặc dù còn có han chế song cần phải thừa nhận lý thuyết của Maslow là một trong những lý thuyết về nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất trong các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo tâm lý học đồng thời được sử dụng khá rộng rãi trong đời sông xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, tham van.
Các doanh nghiệp rất quan tâm ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn thể hiện ở việc chăm lo đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người lao động (cả vật chất và tinh thần), cải thiện mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thúc đây năng suất, tiết kiệm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận cho đơn vi mình. Từ góc độ tiếp cận của thuyết phân cấp nhu cầu Maslow có thê thấy nhu cầu học tập của gia đình nằm trên một phổ khá rộng, từ bậc thang nhu cầu an toàn ở gần cuối tháp cho tới các bậc thang phía trên như nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận, nhu cầu về sự tôn trọng, nhu cầu hiện thực hóa cái tôi. + Lý thuyết nhu cau có điều kiện do David McCelland (1960) và cộng sự là John Atkinson xây dựng đã nghiên cứu và xác định ba loại nhu cầu cơ bản ở con người là: nhu cầu về quyền lực (nPow), nhu cầu liên kết (nAff), nhu cầu thành đạt (nAch). Theo McCelland, những người có nhu cầu học tập để trở nên thành đạt được nhận ra qua các biểu hiện bên ngoài như sự lo lang, chuyén tam tim kiếm, bổ sung tri thức và hoàn thiện kĩ năng làm việc dé hoàn thành nhiệm vụ được giao vì vậy nhu cầu học tập.
tự học, tự bồi dưỡng là một yếu tô quan trọng trong tổ chức. + Giáo sư tâm lý học người Mỹ Clayton Alderfer (1969) sau một loạt các nghiên cứu đã xây dựng nên thuyét ERG. Thuyết này cho rằng hành động của con người bắt nguôn từ nhu câu song cùng một lúc họ có thê theo đuôi cả ba nhu cầu cơ bản: như cầu ton tại, nhu cầu quan hệ và nhu câu phát triển, chứ không nhất thiết phải theo trật tự từ thấp đến cao như trong lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow. Nhu cầu tồn tại (E: Existence needs): bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống nhu cầu sinh lý và an toàn của tác giả Maslow.
Nhu cầu quan hệ (R: Relatedness needs): là những đòi hỏi về những quan hệ vả tương tác qua lại giữa các cá nhân, nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu được tôn trọng. Nhu cầu phát triển (G: Growth needs): là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển mỗi cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người khác). Cũng theo giáo su Alderfer, khi nhu cau tồn tại bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của minh dé theo đuôi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn, con người ta thường xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa các cá nhân tốt hơn và họ dồn nỗ lực phan đấu cho tuong lai nhiéu hon.
+ Một nha tâm lý học khác là Victor H.Vroom đã công bố thuyết Động cơ thúc đẩy theo hy vọng, cho rằng động cơ thúc đây con người làm mọi việc sẽ được qui định bởi giá trị mà con người đặt vào kết quả của sự cô gắng của bản thân (dù là tích cực hay tiêu cực), được nhân thêm bởi niềm tin mà họ cho rằng sự cố găng của mình sẽ được hỗ trợ thực sự để đạt được mục tiêu. Hay khác đi, động cơ thúc đây là sản phẩm của giá trị mong đợi mà con người đặt vào mục tiêu và những cơ hội mà họ thấy sẽ hoàn thành được mục tiêu đó. Thuyết này có thể khái quát bằng sơ đồ: Sức mạnh = Mức ham mê x Hy vọng Sức mạnh: là cường độ thúc day con người. 9 Mức ham mê: là cường độ ưu ái của một người dành cho kết quả.
Hy vọng: là xác suất mà một hoạt động riêng lẻ sẽ dẫn tới một kết quả mong muốn. Lý thuyết của Vroom được đánh giá là thực tế hơn, tránh được đặc trưng đơn giản hoá trong cách tiếp cận của Maslow và Herzberg và phù hợp với toàn bộ hệ thống quản lý theo mục tiêu. Ngoài ra, cũng cần ké đến một số lý thuyết khác như thuyết Nhu cầu biểu lộ của H.Murray, thuyết Động năng nhân cách của K.Lewin, lý thuyết Hai yếu tô động cơ - vệ sinh của Federick Herzberg. Những lý thuyết về nhu cầu của các học giả phương Tây đều thừa nhận tính chất xã hội của nhu cầu, coi trọng nhu cầu tinh thần của con người.
Tuy nhiên, họ chưa chỉ ra được cơ chế hình thành cũng như nguyên tắc của việc hình thành và phát triển nhu cầu. - Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết Nhắc đến nhu cau thì không thé không đề cập đến các nghiên cứu về van đề này trong tâm lý học Hoạt động, nền tâm lý học được thành lập ở nước Nga Xô Viết sau Cách mạng tháng Mười. Dòng phái tâm lý học này lấy triết học mác xít, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận trong nghiên cứu tâm lý con người. Vấn đề nhu cầu được các nhà tâm lý học Hoạt động quan tâm xem xét theo một số hướng chủ yếu sau.Uznatze - tác giả của thuyết tâm thé - là người đã khám phá ra sự liên quan giữa nhu cầu với hành vi của con người, tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một loại nhu cầu cơ ban.