CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE KIET QUE TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIEP 1. CAC DINH NGHIA VE KIET QUE TÀI CHÍNH Kiét qué tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính mà của mình đối với các chủ nợ. Tuy nhiên, quan điểm này có sự thay đổi qua các nghiên cứu khác nhau trên thế giới. Việc này xuất phát từ vấn đề lựa chọn mẫu cho các mô hình nghiên cứu về dự báo kiệt quệ tài chính.
Theo Altman va Hotchkiss (2005), các công ty không thành công có thể được xác định thông qua các giai đoạn khó khăn mà chúng trải qua. Có bốn giai đoạn khái quát được phát hiện trong các tài liệu nghiên cứu liên quan để phân loại các công ty kiệt quệ tài chính, đó là thất bại (failure), mất thanh khoan (insolvency), vo ng (default) va pha san (bankcrupty). Cac giai đoạn này đôi khi được sử dụng thay thế nhau nhưng chúng đều cho thấy các nội dung khác nhau của kiệt quệ tài chính. Thất bại (failure) theo Altman và Hotchkiss (2005) nghĩa là tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư cùng với các tỷ số khác đẻ đánh giá rủi ro là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường hoặc doanh thu không đủ bù đắp chỉ phí của công ty.
Tuy nhiên, công ty trong tình huống này vẫn có thẻ tiếp tục hoạt động nếu chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để phân loại một công ty đối mặt với tình huống trên như một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính. Theo Wruck (1990), thất bại là việc dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để thỏa mãn nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài chính này bao gồm việc không thẻ giải quyết nợ đối với các nhà cung cấp tín dụng và người lao động hoặc gánh chịu tôn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng hoặc không thể hoàn trả nợ gốc và lãi vay.
Thất bại của công ty được chia làm hai loại đó là thất bại tài chính và thất bại kinh tế. Thất bại tài chính là một công ty vi phạm trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là thất bại kinh tế. Thất bại tài chính không đồng nghĩa với phá sản hay giải thể. Bởi vì tất cả các công ty khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh thì đều sẽ trải qua that bai tài chính và thất bại kinh tế nhưng chỉ một số công ty trong đó đi đến phá sản hay giải thể.
Mất thanh khoản (insolvency) có thể được định nghĩa là một công ty không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm cả các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp, chủ nợ (Shrader va Hickman, 1993). Định nghĩa trên giống với định nghĩa thất bại tài chính của Wruck (1990). Thực tế mắt thanh khoản là khác biệt so với thất bại tài chính. Mắt thanh khoản được chia thành hai dạng: mất thanh khoản do giá trị và mắt thanh khoản do dòng tiền (Ross và cộng sự, 2003).
Mắt thanh khoản do giá trị cho rằng việc mắt thanh khoản xảy ra khi giá trị thị trường tải sản công ty thấp hơn so với giá trị của các khoản nợ hay còn được hiểu là giá trị kinh tế ròng âm. Mắt thanh khoản do dòng tiền là công ty không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại 'Vỡ nợ (default) là một khái niệm tài chính khác liên quan đến kiệt quệ tài chính. Vỡ nợ được thẻ hiện như là tình trạng khi một công ty không thể trả được nợ gốc hay lãi đối với chủ nợ khi chúng đến hạn, và do đó vi phạm điều kiện hợp đồng tín dụng dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và Hotchkiss, 2005). Vỡ nợ được tách ra làm hai phạm trù riêng là vỡ nợ thanh toán do không thể trả nợ gốc và lãi đến hạn, và vỡ nợ kỹ thuật do vi phạm các điều khoản hợp đồng tín dụng của công ty.
Ngoài ra có sự nhằm lẫn phô biến giữa 10 mắt thanh khoản và vỡ nợ. Đề phân biệt giữa vỡ nợ và mắt thanh khoản cần tham chiếu đến thời điểm đáo hạn của nợ. Một công ty có thể ở trong tình trạng mất thanh khoản trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ đến thời điểm nợ đáo hạn, công ty mới được xem là vỡ nợ, lúc này công ty sẽ cố gắng tái cấu trúc nợ trước khi tình trạng phá sản bắt đầu.
Phá sản (bankruptcy) là việc một công ty đệ trình đơn xin phá sản chính thức đến với tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép phá sản. Diễn biến sau đó sẽ theo hai hướng hoặc là công ty bán tài sản để trả nợ (thanh lý tài sản) hoặc là nỗ lực thực hiện một chương trình tái cấu trúc (Altman và Hotchkiss, 2005). Phá sản là một hình thái đặc biệt của kiệt quệ tài chính. Phá sản tập trung vào các nghiên cứu giảm kích cỡ mẫu.
Việc sử dụng kiệt quệ tài chính sẽ có tính linh động hơn, gia tăng kích cỡ mẫu mà trên lý thuyết, không phải tất cả công ty bị kiệt quệ tài chính đều đi đến phá sản. Phá sản chỉ là sự lựa chọn cuối cùng đối với các công ty mà chúng không thể giải quyết các vấn đề tài chính. Theo Adeyemi (201 1), kiệt qué tai chính có thể được định nghĩa là một công ty rơi vào tình trạng khó khăn về hoạt động, quản lý vẻ tài chính. Giá trị của công ty sẽ giảm trong suốt khoảng thời gian kiệt quệ.
Các chỉ phí trực tiếp của việc mắt khả năng thanh khoản bao gồm chỉ phí kiểm toán, chỉ phí pháp lý, hoa hồng quản lý và các khoản thanh toán khác trong khi chỉ phí gián tiếp là những chỉ phí liên quan đến nhân viên, nhà cung cấp, nhà đầu tư và các cỗ đông (Pandey, 2005). Kiệt quệ về tài chính làm giảm các khoản thưởng khuyến khích nhân viên để họ làm việc chăm chỉ và kích thích họ đàm phán lại sự bồi thường hoặc là họ sẽ rời bỏ công ty. Cả năng suất lao động và việc thay thế nhân viên đều tốn kém và phá hủy giá trị công ty. Các đối thủ cạnh tranh có thê theo đuổi chiến lược tiếp thị và chiến lược về giá nhằm thu hút 11 khách hàng của công ty đang gặp khó khăn, và do đó bóp nghẹt đối thủ cạnh tranh ngoài thị trường.
Dựa trên các quan điểm trên, có thể tóm tắt rằng, kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ nợ. Các chí phí liên quan đến kiệt quệ tài chính bao. gồm cả chỉ phí trực tiếp từ việc mắt khả năng thanh khoản và chỉ phí gián tiếp liên quan đến nhân viên, nhà cung cấp, nhà đầu tư. Trạng thái của kiệt quệ tài chính là quá trình thay đổi linh hoạt các trạng thái khác nhau giữa tình trạng khó khăn tạm thời của doanh nghiệp và phá sản, là kết quả của các bắt thường, xây ra trong hoạt động kinh doanh suốt một khoảng thời gian.
Các trạng thái này bao gồm thất bại, t khả năng thanh khoản, vỡ nợ và phá sản. Thất bại là giai đoạn sớm của kiệt quệ tài chính khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, doanh thu không đủ đẻ bù đắp chi phí dẫn đến những khó khăn trong việc đáp ứng các nghĩa vụ về tài chính của mình với các chủ nợ. Khi tình trạng thất bại kéo dài, doanh nghiệp rơi vào tình trạng mat khả năng thanh khoản. Khi đó, doanh nghiệp không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại của mình, giá trị thị trường của các tài sản doanh nghiệp sụt giảm và thấp hơn so với giá trị các khoản nợ.
Nếu tình trạng mất khả năng thanh khoản của doanh nghiệp kéo dài, doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc hay lãi đến hạn cho chủ nợ hay vi phạm các điều khoản của hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý và vỡ nợ. Giai đoạn phá sản được coi là giai đoạn cuối cùng và là giai đoạn nghiêm trọng nhất của kiệt qué tai chính, doanh nghiệp thanh lý tai sản hoặc thực hiện tái cấu trúc sau khi được tòa án phê duyệt phá sản. CAC DAU HIỆU NHẬN BIẾT KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH Các công ty với sức khỏe tài chính kém và có nhiều vấn đề về nợ vay thì có thể dễ dàng lâm vào kiệt quệ tài chính, và hơn thế, một số sẽ phá sản khi 12 khủng hoảng kinh tế xảy ra. Tuy nhiên, ngay cả khi trong những nền kinh tế ôn định, có lợi nhuận tốt, việc quản lý không phù hợp với xu thế hiện tại cũng có thể xảy ra kiệt quệ tà h.
Như đã trình bày ở trên, kiệt quệ tài chính thường trải qua ba giai đoạn chính gồm: giai đoạn sớm - thất bại, giai đoạn giữa — mắt khả năng thanh khoản, giai đoạn cuối - vỡ nợ và phá sản. Tuy nhiên, trên thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa các giai đoạn của kiệt quệ tài chính. Quá trình kiệt quệ tài chính thường diễn ra trong một thời gian dài với giai đoạn sau là hệ quả của giai đoạn trước và giai đoạn trước là một phần của giai đoạn sau. Vì vậy các giai đoạn của kiệt qué tai chính không thể phân biệt một cách tuyệt đối.
Dựa vào mức độ nghiêm trọng của mỗi giai đoạn kiệt quệ tài chính, luận văn sẽ trình bày các dấu hiệu chính để giúp nhận biết một doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Giai đoạn sớm — giai đoạn thất bại Trong giai đoạn thất bại, doanh nghiệp gặp một số khó khăn trong hoạt động kinh doanh như doanh số sụt giảm, doanh thu không đủ để bù đắp chỉ phí làm thu nhập hoạt động bị âm, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi công nợ nên thỉnh thoảng bị thiếu hụt tiền mặt để hoạt động (Whitaker, 1994), tỷ suất sinh lợi cổ phiếu âm (Opler và Titman, 1994), khách hang phan nàn, mắt các khách hàng thân thiết, trễ công bố thông tin (Scherrer, 1988). Andrade và Kaplan (1998) đưa ra dấu hiệu nhận diện một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính là năm đầu tiên mà thu nhập trước thì lãi vay và khấu hao (EBITDA) của doanh nghiệp thấp hơn chỉ phí tài chính.