CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trong nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động Kiểm soát nộ bộ liên quan đến lĩnh vực ngân hàng. Đối với các nghiên cứu nước ngoài, có thể kế đến bài viết của Dumitrescu (2004) trên báo BIATEC - Slovakia đã khái quát chức năng và nhiệm vụ bộ phận Kiểm soát nội bộ trong ngân hàng.
Thêm vào đó, bài viết cũng nêu lên điểm khác nhau giữa kiểm soát nội bộ ngân hàng và giám sát hoạt động ngân hàng, hay kiểm soát nội bộ ngân hàng và kiểm toán độc lập. Từ đó nêu nổi bật mỗi quan hệ giữa các bộ phận chức năng trên. Kế đó, bài nghiên cứu của Rasoava Rijamampianina (2016) trên tạp chí Baks and Bank System đã nhân mạnh khá chi tiết về chức năng của hoạt động kiểm soát nội bộ trong NHTM, đồng thời phân tích các tiêu chí định tính của quản trị rủi ro ngành ngân hàng, từ đó thấy được sự liên kết rõ rệt của việc quản tri rủi ro nội trong các ngân hàng với nền kinh tế nói chung và kinh tế Nam Phi nói riêng.Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Anh Phong và Tôn Trung Hạnh (2010), đã chỉ ra thực trạng cũng như những điểm đã đạt được và chưa đạt được của hoạt động kiểm soát nội bộ của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm từng bước nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm soát nội bộ. Đỗ Thị Bích Phượng (2014) trong luận văn Thạc sĩ đã khái quát, làm rõ hoạt động kiểm soát nội bộ của Trụ sở chính Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ của Ngân hàng trên.
Cùng năm, Võ Thị Hoàng Nhi và Lê Thị Thanh Huyền (2014) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra được thực trạng của hệ thống KSNB trong các NHTM Việt Nam và đưa ra định hướng hoàn thiện hệ thống KSNB của các NHTM Việt Nam bằng cách hoàn thiện các yếu tố trong mô hình 5 yếu tố tác động của tổ chức COSO. Đến năm 2016, một loạt bài nghiên cứu, luận văn về hoạt động kiểm soát nội trong các Ngân hàng thương mại khác nhau được ra đời, tiêu biéu có thé kế đến Nguyễn Thị Minh Phương (2016) đã khái quát các cơ sở pháp lý cho việc thiết lập hoạt động Kiểm soát nội bộ cho các Ngân hàng Thương mại, đồng thời đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng cho hoạt động Kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ Tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn Tỉnh Nam Định. Nguyễn Thị Lan Hương (2016) cũng đã nêu khái quát cũng như đưa ra phương hướng hoàn thiện công tác Kiếm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Công Thương trong luận văn Thạc sỹ. Điểm mới của luận văn là tác giả đã chỉ ra chi tiết các nhân tố ảnh hưởng cũng như tác động trực tiếp đến hoạt động Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng, qua đó những kiến nghị và phương hướng cải thiện hệ thống Kiểm soát nội bộ cũng bám sát thực tế hơn.
Hồ Vũ Tuan (2016) trong luận án Tiến sĩ đã trình bày về theo hướng hiệu quả hoạt động và tầm quan trọng của hệ thống Kiểm soát nội bộ trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam, thông qua việc đánh giá chi tiết các nhân t6 ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của của các nhân tố đến sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, qua đó đề xuất các giải phát nâng cao khắc phục và nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ. Điểm mới của luận văn là tác giả đã xem các khía cạnh khác nhau của các nhân tố và có những thang điểm cũng như đánh giá chỉ tiết mức độ tác động của những nhân tố đó đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương mại. Phạm Thanh Thủy (2016) đã giá việc thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại thông qua năm thành phần chính theo chuẩn COSO cũng như đúc rút những kinh nghiệm quốc tế trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại. Cùng quan điểm, Nguyễn Thị Lệ Thành (2017) trong nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ Ngân hàng thương mại cũng đánh giá cao tầm quan trọng của việc hoàn thiện 5 yếu tố theo chuân COSO có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Luận án Tiến sĩ của Trương Nguyễn Tường Vy (2018) đã đánh giá việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng thông qua 5 bộ phận cấu thành gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro tín dụng, hoạt động kiểm soát tín dụng, thông tin truyền thông và hoạt động giám sát tín dụng theo các được đề nghị bởi báo cáo Basel 1998 cũng như kế thừa những điểm mới trong báo cáo COSO 2013. Từ đó khăng định sự hữu ích và chuẩn chỉnh của 2 báo cáo trên đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại cũng như khuyến nghị các chính sách hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý mục tiêu hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao nhất tại các Ngân hàng thương mại cô phần tại Việt Nam. Vũ Thị Hương Lan (2019) đã nêu rõ thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Kiểm soát nội bộ trong luận văn Thạc sỹ. Đến năm 2020, Nguyễn Tuan (2020) trong luận án Tiến sỹ đã đánh giá khái quát hệ thống Kiểm soát nội bộ của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam, qua đó đưa ra những mặt tích cực cũng như hạn chế cũng như phương hướng nâng cao chất lượng Kiểm soát nội bộ.
Tuy nhiên quy mô của nghiên cứu này dựa trên tình trạng chung của toàn hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam, do đó nghiên cứu sẽ mang tính chất tổng quát, chứ không chỉ tiết cho một Ngân hang cụ thé. Cũng trong luận án Tiến sĩ, Bùi Thanh Sơn (2020) đã chỉ cách thức hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại theo Thông tư 13/2018-NHNN, đồng thời chỉ ra mức độ đáp ứng, các vấn đề chưa hiệu quả trong việc triển khai thực tiễn hoạt động kiểm soát nội bộ. Khoảng trồng nghiên cứu Thực tế cho thấy trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đã có khá nhiều các nghiên cứu về hoạt động Kiểm soát nội bộ. Các nghiên cứu trên đã phần nào làm rõ khái niệm và thực trạng chung về hoạt động kiểm soát nội bộ tại các tổ chức nói chung cũng như tại các Ngân hàng TMCP khác nhau tại Việt Nam, giúp người đọc có cai nhìn tổng quan về cách thực vận hành của bộ phận Kiểm soát nội bộ cũng như đánh giá những mặt tích cực và hạn chế, từ đó đưa ra những ý kiến, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này.
Tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả, chưa có dé tài nào nghiên cứu về hoạt động Kiểm soát nội bộ của riêng Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. Như đã đề cập trước đó, mô hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt rất đặc thù và là duy nhất tại Việt Nam do kết hợp với Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam dé tạo ra các Phòng giao dịch Bưu điện thực hiện chức năng như một Chi nhánh nhỏ, do đó các ngoài các rủi ro thường gặp tại các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng (như rủi ro tai chính, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản.) Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt sẽ gặp nhiều vấn đề hơn ở rủi ro hoạt động, đặc biệt là rủi ro về con người. Chính vì vậy, tác giả cho rang có một khoảng trồng trong việc nghiên cứu về hoạt động Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, và việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn: “Hoạt động Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt” là hoàn toàn cấp thiết và không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó. Cơ sở lý luận về hoạt động Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại 1.
Tổng quan về hoạt động Kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại Lý luận về hoạt động Kiểm soát nội bộ nói chung đã các tô chức được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua. Từ những năm đầu của thế kỷ 19, khái niệm “Kiểm soát nội bộ” đã được các kiểm toán viên chú ý đến khi nhận thức được việc kiểm tra, kiểm soát toàn bộ các nghiệp vụ tai chính của một don vi, tổ chức là không cần thiết, thay vào đó chỉ cần tiến hành chọn mẫu rủi ro và chấp nhận tin tưởng kết quả của hệ thống KSNB của tổ chức trong việc thu thập báo cáo tài chính, số liệu, thông tin. Chính từ đó mà hoạt động kiểm soát nội bộ dan được biết đến, được định nghĩa và dần phát triển thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ cho công việc của kiêm toán viên mà còn là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức.
Qua từng thời kỳ, đã có rất nhiều khái niệm, cách định nghĩa khác nhau về hoạt động Kiểm soát nội bộ trong một tổ chức, tuy nhiên khái nệm phô biến, được chấp nhận và sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thé giới là khái niệm của Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ 1992 và chỉnh sửa và bố sung năm 2017 (COSO — Committee Of Sponsoring Organization). Theo COSO, “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quan lý, Hội đồng quan trị và các nhân viên của đơn vị chỉ phối, nó được thiết lập dé cung cap mot sự dam bao hop ly nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đên hoạt động, bảo cáo và tuân thủ. Qua trình kiêm soát nội bộ được thiết lập qua năm thành phan bao gom: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Hoạt động giám sát”.