CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE HOAT ĐỘNG MUA BAN VÀ SAP NHẬP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Một số vấn đề cơ bản ]l. Khải niệm Thuật ngữ Mua bán và Sáp nhập là nghĩa tiếng Việt của cụm từ Merger and Acquisition (M&A).
Merger (sáp nhập) là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty vào lam một. Acquisition (mua lại) là sự mua lại một công ty hoặc một phan công ty dé trở thành chủ sở hữu. Tại các quốc gia khác nhau, tùy theo pháp luật quy định mà khái niệm và hoạt động M&A được giới hạn trong những phạm vi nhất định về đối tượng tham gia, hình thức tiến hành cũng như quy mô của thương vụ. Tại Việt Nam, khái niệm Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp được hiểu dưới ba hình thức được quy định tại Điều 17 Luật Cạnh tranh năm 2004 như sau: Sap nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyên toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyền toàn bộ tai sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của minh dé hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tôn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất. Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Như vậy, so với nghĩa của hai từ Merger va Acquisition thì pháp luật Việt Nam còn quy định thêm hình thức hợp nhất doanh nghiệp trong hoạt động Mua bán và Sáp nhập. Hợp nhất thực chất là trường hợp đặc biệt của sáp nhập và được phân biệt với sáp nhập bằng kết quả của giao dịch.
Đối với hình thức sáp nhập thì hai hay một số doanh nghiệp sẽ kết hợp với nhau và kết quả của giao dịch chỉ làm ngưng sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Trong khi đó, hợp nhất lại cham dứt sự tồn tại của tat cả các doanh nghiệp tham gia hợp nhất. NHTM là một loại hình doanh nghiệp nhưng cũng là loại hình tổ chức tín dụng, bởi vậy hoạt động Mua bán và Sáp nhập của NHTM phải tuân theo các quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Theo Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11 tháng 02 năm 2010 của NHNN có định nghĩa về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng như sau: Sáp nhập tô chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tô chức tin dụng (tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyên toàn bộ tài sản, quyên, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tô chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời cham dứt sự tồn tại của tổ chức tin dụng bị sáp nhập.
Hợp nhất t6 chức tin dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tin dụng (tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tô chức tín dụng mới (tổ chức tin dung hợp nhất) bang cách chuyên toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ich hợp pháp sang tô chức tin dụng hợp nhất, đồng thời cham dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. Mua lại tô chức tín dụng là hình thức một tổ chức tin dụng (tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tô chức tin dụng bị mua lại). Sau khi mua lại, tổ chức tin dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tô chức tín dụng mua lại. Nhìn chung, cho dù được biểu hiện băng từ ngữ như thế nào thì các giao dịch Mua bán và Sáp nhập đều có một điểm chung, đó là làm nên những thay đổi lớn về ban chất, đường lối, hay sự kiểm soát của một tổ chức (Michael E.
Điều này có nghĩa là hoạt động Mua bán và Sáp nhập của NHTM không chi làm thay đổi tình trạng sở hữu cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi ca sự điều hành, quản tri của một ngân hàng (hoặc tổ chức). Mức độ thay đổi về quan trị, điều hành ngân hàng (hoặc tô chức) còn phụ thuộc vào những quy định của pháp luật nước sở tại, điều lệ hoạt động ngân hàng (hoặc tổ chức), lợi ích của cô đông, quyên lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia. Phân biệt sáp nhập, hợp nhất, mua lại ngân hàng thương mại Tiêu chí Sáp nhập Hợp nhất Mua lại Một hoặc một số | Hai hoặc một sô | Một ngân hang mua lại ngân hàng chuyên | ngân hàng kết hợp | toan bộ tai sản, quyền, giao toàn bộ tài với nhau theo | nghĩa vụ va lợi ích hợp Cách thức ` , , sản, quyên, nghĩa | nguyên tắc tương |pháp một ngân hàng tiên hành ; , ; vụ và lợi ích hợp | đôi bình đăng. giao dịch pháp của mình cho một ngân hàng khác.
Châm dứt sự tôn|Ngân hàng sau | Ngân hàng bị mua lại trở tạ của ngân |hợp nhất bắt đầu | thành công ty trực thuộc , hangbi sáp nhập. | đi vào hoạt động | của ngân hang mua lại. ; đông thời cham giao dịch ¬ dứt sự tôn tại của các tố chức tín dụng bị hợp nhất. _òẳ INgừng phát hành |Ngừng phát hành | Ngân hàng mua lại kiêm Cô phiêu cô phiêu của ngân cô phiêu của từng soát toàn bộ cô phiêu của hàng bị sáp nhập.
|ngân hàng hợp | ngân hàng bị mua lại. nhất, phát hành cỗ phiếu mới của ngân hàng mới sau hợp nhất. Ngân hang bị sáp |Các ngân hàng | Các ngân hàng thường Quy mô nhập thường có |thường có cùng | không ngang bằng nhau của các | quy mô nhỏ hơn | quy mô. về mặt quy mô.
bên ngân hàng nhận sáp nhập. Phương |Băng tiên mặt | Hai bên hoán đôi | Băng tiền mặt hoặc kết thức hoặc kết hợp giữa | cổ phiếu. hợp giữa tiền mặt và thanh tiền mặt và hoán hoán đổi cổ phiếu. toán đổi cô phiếu.
thông thường 1. Các chủ thé tham gia vào hoạt động Mua bán và Sap nhậpcủa ngân hàng thương mại Giống như bất kỳ giao dịch thương mại nao, giao dich Mua bán và Sap nhập có sự tham gia của ba chủ thể: bên mua, bên bán và các chủ thể khác có liên quan đến giao dịch. Bên mua và bên ban Bên mua trong một giao dich Mua bán va Sap nhập thường được hiểu là bên có tiềm lực lớn hơn về tài chính và là bên nắm thế chủ động hơn trong giao dịch. Bên mua có thé thực hiện giao dịch Mua bán và Sáp nhập nhiều lần, trong khi đó bên bán thường chỉ tham gia một lần.
Đối với trường hợp mua bán hay sáp nhập, việc xác định bên mua và bên bán là tương đôi rõ ràng, còn đối với giao dịch hợp nhất, bên nào năm quyền kiểm soát các doanh nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh tham gia hợp nhất khác thì được xác định là bên mua. Tại Việt Nam, các đối tượng đứng ở vi thế bên mua hoặc bên bán trong một thương vụ Mua bán va Sap nhập của NHTM thường là các NHTM, tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tê trong và ngoài nước. Các chủ thể khác Ngoài bên mua và bên bán là đối tượng chính tham gia vào một giao dịch Mua bán và Sáp nhập, các bên tham gia khác bao gồm đội ngũ tư vấn và cơ quan quản lý nhà nước cũng đóng vai trò không nhỏ trong thành công của một giao dịch. Đội ngĩ tư vấn - Tư vấn về pháp luật Cũng như bat kỳ giao dịch kinh doanh hay tài sản nao, giao dich Mua bán và Sáp nhập cũng có tâm điểm là một hợp đồng hay chuyên nhượng quyền sở hữu pháp lý.
Do đó, trong bất kỳ giao dịch Mua bán và Sáp nhập nào cũng không thể thiếu được bộ phận tư vấn về pháp luật, mà cụ thể là các luật sư. Có hai nguồn luật su được sử dụng là trong công ty và ngoài công ty. Luật sư trong công ty là những người am hiểu rõ hơn về thương vụ Mua ban và Sáp nhập của công ty, cách thức lãnh đạo của công ty nhìn nhận thương vụ này ra sao, cũng như những điểm mạnh và điểm yếu của họ. Ngược lại, nhóm tư vấn luật thuê bên ngoài lại đóng vai trò là những chuyên gia quan trongtrong những lĩnh vực cụ thé, bao gồm các van dé phức tạp liên quan đến Mua bán va Sap nhập, thuế, bản quyên, luật môi trường, các van dé tranh chấp và các vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà luật sư nội bộ không có chuyên môn.
Việc quyết định lựa chọn luật sư bên ngoài tham gia vào một giao dịch Mua bán va Sap nhập còn tuỳ thuộc vào quy mô của giao dịch, thỏa thuận giữa hai bên cũng như năng lực của bộ phận pháp lý của từng bên. Với các giao dịch có tầm cỡ, việc kết hợp được cả đội ngũ luật sư trong và ngoài công ty là một sự lựa chọn tối ưu. - Tư vấn về tài chính Nếu như nhóm thâm định pháp lý cung cấp thông tin cho bên mua về cái mà họ sẽ mua thì nhân viên thâm định tài chính sẽ cho họ biết vụ Mua bán và Sáp nhập này có trị giá bao nhiêu và nó thực sự mang lại điều gì cho bên mua về mặt tài chính. Tham gia vào đội ngũ tư vấn tài chính có các công ty kiểm toán, các tô chức định giá tài sản, các ngân hàng đầu tu.
Hiện nay, những hãng kiểm toán lớn không chỉ làm ra những bản báo cáo tài chính, họ đưa ra lời khuyên cho việc cơ cau lại một công ty về mặt tài chính cũng như nêu những chiến lược về thuế và kế toán. Đội ngũ kiểm toán viên đem lại sự đảm bảo cho cả bên bán và bên mua. Họ nói với bên mua rằng hoạt động tài chính của bên bán đúng như những báo cáo mà bên bán đã cung cấp. về phía bên bán, trong mọi trường hợp, dịch vụ của kiểm toán viên là điều kiện tiên quyết dé khiến mộtcông ty có thé bán được hay không.
Tại các nước phát triển, các ngân hàng đầu tư là những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và giao dịch.