CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ TÁI BẢO HIỂM TÀI SẢN 1.1 Khái quát về Bảo hiểm tài sản 1. Đối tượng và đặc điểm của bảo hiểm tài sản Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm. Bảo hiểm tài sản có một số đặc điểm sau: - Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả bảo hiểm. Số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp không vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm.
Do bảo hiểm là sự bù đắp ngang bằng về mặt tài chính cho những thiệt hại của người tham gia bảo hiểm, cho nên trong mọi trường hợp tổn thất, số tiền mà người tham gia được bù đắp sẽ không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế và giới hạn trách nhiệm hay chính là số tiền bảo hiểm của hợp đồng. - Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện người thứ ba có lỗi và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, sau khi trả tiền bồi thường, doanh nghiệp sẽ được thay quyền của người được bảo hiểm để thực hiện việc truy đòi trách nhiệm của người thứ ba có lỗi. Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người được bảo hiểm, chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm của người thứ ba có lỗi, đồng thời đảm bảo nguyên tắc bồi thường.
Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng giúp đảm bảo công bằng đối với người được bảo hiểm, đối với công ty bảo hiểm và người thứ 3 có lỗi, đồng thời cũng loại bỏ khả năng người được bảo hiểm được bồi thường từ cả phía công ty bảo hiểm và người thứ ba. Tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp. Đó là khi người thứ ba gây lỗi là trẻ em, hoặc là con cái, vợ chồng, cha mẹ… của người được bảo hiểm. 5 - Bảo hiểm trùng: trong bảo hiểm tài sản, nếu một đối tượng bảo hiểm đồng thời được bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro với những doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều kiện bảo hiểm giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau, và tổng số tiền bảo hiểm từ các hợp đồng này lớn hơn giá trị của đối tượng bảo hiểm đó thì gọi là bảo hiểm trùng.
Trong trường hợp có bảo hiểm trùng, tùy thuộc vào nguyên nhân xảy ra để giải quyết. Thông thường, bảo hiểm trùng liên quan đến sự gian lận của người tham gia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm. Do đó, về nguyên tắc, doanh nghiệp bảo hiểm có thể hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện thấy bảo hiểm trùng có gian lận. Nếu các doanh nghiệp chấp nhận bồi thường thì lúc này, trách nhiệm của mỗi công ty bảo hiểm đối với tổn thất sẽ được phân chia theo tỷ lệ trách nhiệm mà họ đảm nhận.
Cụ thể: STBH của HĐBH A STBT của HĐBH A = Giá trị thiệt hại thực tế x ∑ STBH Trên thực tế, một trong số các doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp hợp đồng cho đối tượng được bảo hiểm trùng này có thể sẽ đứng ra bồi thường theo số thiệt hại thực tế, sau đó sẽ đòi lại các doanh nghiệp bảo hiểm khác phần trách nhiệm của họ. - Chế độ bồi thường bảo hiểm + Chế độ bảo hiểm theo mức miễn thường Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giá trị thiệt hại thực tế vượt quá một mức đã thỏa thuận được gọi là mức miễn thường. Việc áp dụng bảo hiểm theo mức miễn thường có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc. Nếu giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm thỏa thuận sẽ không bồi thường đối với những tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường trên cơ sở tự nguyện thì phí bảo hiểm sẽ đượcgiảm bớt phụ thuộc vào mức miễn thường cụ thể.
Trong trường hợp miễn thường bắt buộc, phí bảo hiểm vẫn giữ nguyên. Bảo hiểm theo mức miễn thường không chỉ tránh cho danh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho những tổn thất quá nhỏ so với giá trị bảo hiểm mà còn có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức và trách nhiệm đề phòng hạn chế rủi ro của người được bảo hiểm. 6 Có hai loại miễn thường: miễn thường có khấu trừ và miễn thường không khấu trừ. Chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ đảm bảo đảm chi trả cho những thiệt hại thực tế vượt quá mức miễn thường những số tiền bồi thường sẽ không bị khấu trừ theo mức miễn thường.
STBT = Giá trị thiệt hại thực tế Trong chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ, thiệt hại thực tế phải lớn hơn mức miễn thường quy định mới được bồi thường nhưng số tiền bồi thường sẽ bị khấu trừ theo mức miễn thường này. STBT = Giá trị thiệt hại thực tế - Mức miễn thường + Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ Có hai loại tỷ lệ được áp dụng: Tỷ lệ Số tiền bảo hiểm/ Giá trị bảo hiểm và tỷ lệ Số phí đã nộp/ Số phí lẽ ra phải nộp. Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/ giá trị bảo hiểm được áp dụng trong các trường hợp bảo hiểm dưới giá trị: STBH STBH = Giá trị thiệt hại thực tế x GTBH Còn trong trường hợp có sự khai báo không chính xác rủi ro, bên bảo hiểm thường áp dụng tỷ lệ “số phí bảo hiểm đã nộp/số phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp” để thanh toán nếu chấp nhận bồi thường: Phí bảo hiểm đã nộp STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x Phí bảo hiểmlẽ ra phải nộp - Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên Theo chế độ bồi thường này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả số tiền bồi thường theo một giới hạn đã thỏa thuận. Các tổn thất của người được bảo hiểm nằm trong giới hạn này được gọi là tổn thất thuộc rủi ro đầu tiên hoặc tổn thất đầu tiên.
Còn tổn thất vượt quá giới hạn thỏa thuận này có thể sẽ được bảo hiểm bằng một đơn bảo hiểm vượt quá. Chế độ bồi thường này được áp dụng trong bảo hiểm trộm cắp. Người ta lý luận rằng, ít khi toàn bộ tài sản bị mất trộm, do vậy tài sản thường chỉ muốn bảo hiểm cho phần tổn thất có thể nhất, và do đó được gọi là tổn thất đầu tiên. Vai trò của Bảo hiểm tài sản Ngay từ khi ra đời, bảo hiểm tài sản đã đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ với riêng người được bảo hiểm mà trên bình diện xã hội, kinh tế vĩ mô, bảo hiểm tài sản góp phần không nhỏ cho quá trình phát triển bền vững của một quốc gia.
- Tài sản được bảo hiểm có thể là tài sản cá nhân cũng có thể là tài sản của tổ chức, quốc gia. Các công trình nhà ở, nhà xưởng, kho bãi, máy móc, thiết bị, hàng hóa, … đều là đối tượng của bảo hiểm tài sản. Do đó, bảo hiểm tài sản ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người, nhiều đối tượng, giúp duy trì sự ổn định tài chính và hoạt động kinh doanh lâu dài của phần đông các cá nhân và tổ chức trong xã hội. - Các rủi ro xảy đến với tài sản, đặc biệt là các tài sản giá trị lớn thường gây ra ảnh hưởng nặng nề, trên diện rộng như các vụ cháy lớn, lũ lụt,… mà bản thân một cá nhân hay một tổ chức không thể tự bù lại được, rất dễ dẫn đến khánh kiệt hay phá sản.
Do vậy, bảo hiểm tài sản làm biện pháp đảm bảo an toàn tài chính, giúp người được bảo hiểm nhanh chóng trở lại trạng thái tài chính ban đầu để có thể tiếp tục lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh. - Rủi ro luôn tiềm ẩn và có nguy cơ xảy ra với bất cứ ai bất cứ lúc nào, do đó bảo hiểm tài sản đem lại sự an tâm cho người được bảo hiểm khi tiến hành các hoạt động sống, sản xuất, kinh doanh liên quan đến tài sản đó. Cũng nhờ sự an tâm đó mà năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh cũng được cải thiện rõ rệt. - Bảo hiểm tài sản ra đời giúp giảm bớt gánh nặng của nhà nước đối với xã hội.
Một đất nước có thể phát triển được thì cần có môi trường kinh doanh an toàn, ổn định. Nếu các rủi ro xảy đến gây ảnh hưởng lớn đến nhiều cá nhân và tổ chức thì nhà nước sẽ phải đứng ra để trợ giúp họ, điều này đè nặng lên cán cân ngân sách quốc gia. Các nghiệp vụ chủ yếu trong Bảo hiểm tài sản Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm rất đa dạng, do đó, các nghiệp vụ có liên quan trong bảo hiểm tài sản tương đối nhiều, có thể kể đến như: 8 - BH hàng hoá vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt, đường hàng không; - BH thân tàu biển, tàu sông, tàu cá; - BH hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt; - BH xây dựng và lắp đặt; - BH thiệt hại vật chất xe cơ giới; - BH mọi rủi ro công nghiệp; - BH máy móc và thiết bị điện tử; - BH thân máy bay và phụ tùng máy bay; - BH tiền; - BH năng lượng dầu khí; - BH nhà tư nhân; - BH tài sản và gián đoạn kinh doanh; - HĐBH cây trồng; - HĐBH vật nuôi; - HĐBH trộm cắp; - Các BH tài sản khác. Tuy nhiên, để phù hợp với mô hình tổ chức kinh doanh và chiến lược kinh doanh bảo hiểm của từng công ty bảo hiểm mà các nghiệp vụ này có thể được phân chia theo các nhóm nghiệp vụ riêng.
Đối với hầu hết các công ty bảo hiểm hiện nay, bảo hiểm tài sản thường được biết đến với các nghiệp vụ bảo hiểm đặc trưng như: bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm mọi rủi ro tài sản, bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,….2 Tái bảo hiểm Tài sản 1. Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm tài sản Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đặc biệt, bao gồm các đặc trưng cơ bản như: Bảo hiểm là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sảm phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan. Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo 9 ngược, có nghĩa là sản phẩm được bán ra trước, có doanh thu trước sau đó mới phát sinh chi phí.