Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lợi của NHTM 123doc 3 Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016 Chương 4: Mô hình kiểm định tác động của rủi ro tín dụng đến tỳ suất sinh lợi của NHTMCP Chương 5: Giải pháp và kiến nghị hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao tỷ suất sinh lợi của NHTMCP Việt Nam 123doc 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Hoạt động quan trọng nhất và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng là hoạt động tín dụng. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá khả năng của khách hàng nhằm đảm bảo khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Việc đánh giá có thể theo đúng quy trình nhưng không thể đảm bảo chắc chắn khả năng trả nợ của khách hàng cho ngân hàng do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Điều này dẫn đến những rủi ro, mất mát đối với tài sản của ngân hàng. Mặc dù, chính sách trong lĩnh vực tài chính có nhiều cải cách, rủi ro tín dụng vẫn là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Theo Basel (1999), rủi ro tín dụng là khả năng người đi vay ngân hàng không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ của mình theo các điều kiện đã thỏa thuận.
Theo Gup và cộng sự (2005), rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ trong hoạt động tín dụng, từ đó gây ra tổn thất cho ngân hàng. rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch về tỷ giá hối đoái, thì rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay không còn khả năng chi trả các khoản vay, gây tổn thất cho người cho vay. Philippe Jorion (2009) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng được ký kết giữa các bên liên quan. Theo Thông tư 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN định nghĩa “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ 123doc 5 của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Theo Trần Huy Hoàng (2011) để khái quát rủi ro tín dụng là “rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng với khách hàng, thể hiện qua việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ cho người cho vay không theo đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”. Tổng hợp các quan điểm và định nghĩa về rủi ro tín dụng ở trên, ta có thể hiểu rủi ro tín dụng là rủi ro khi khách hàng không thực hiện đầy đủ theo cam kết tín dụng bằng văn bản với ngân hàng.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với NHTM 2.1 Đối với hoạt động ngân hàng Khi gặp rủi ro tín dụng, việc ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, trong khi đó ngân hàng phải trả vốn và lãi cho nguồn vốn huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi, ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của NHTM. Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu tăng cao là suy giảm uy tín, thương hiệu của ngân hàng đối với người gửi tiền. Hậu quả là khả năng huy động vốn của ngân hàng bị sụt giảm, nghiêm trọng hơn có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản do rủi ro thanh khoản tăng cao.2 Đối với nền kinh tế Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ thể và nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế.
Do đó rủi ro tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến nần kinh tế. Rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn của khách hàng bị hạn chế, từ đó làm giảm đầu tư cho nền kinh tế, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay phá sản sã dễ gây ra hiệu ứng dây chuyền trong toàn hệ thống ngân hàng, gây ra khủng hoảng tín dụng hưởng đến nền tài chính trong khu vực và thế giới.3 Đối với khách hàng Đối với khách hàng khi rủi ro tín dụng xảy ra thì họ gần như không thể tiếp cận với các nguồn vốn khác tương tự trong hệ thống ngân hàng do lịch sử vay không tốt. 123doc 6 Ngưởi gửi tiền tại ngân hàng có nguy cơ không nhận lại được khoản tiền gốc và lãi tiền gửi nếu các ngân hàng phá sản.
Tóm lại, rủi ro tín dụng dẫn đến nhiều hệ lụy không chỉ của bản thân ngân hàng mà còn cả nền kinh tế. Cũng vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng cần phải có những biện pháp tích cực để theo dõi hoạt động của ngân hàng và phải có giải pháp phù hợp giảm thiểu rủi ro tín dụng.3 Phân loại rủi ro tín dụng 2.1 Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để đưa ra quyết định cho vay.
Rủi ro bảo đảm phát sinh từ những tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật để giải quyết khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay, xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng.
Rủi ro tập trung phát sinh khi tập trung vốn cho vay vào một khách hàng hoặc một lĩnh vực kinh tế, dễ dẫn đến rủi cao.2 Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng Rủi ro khách quan là rủi ro thất thoát khoản vay mặc dù cả ngân hàng và người đi vay đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình do các nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích… Rủi ro chủ quan là rủi ro do lỗi của bên đi vay hoặc của ngân hàng do vô tình hay cố tình gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay.4 Tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011), các chỉ số thường được sử dụng đế đánh giá rủi ro tín dụng là: 2.1 Tỷ lệ nợ quá hạn Tổng dư nợ có nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = 100% Tổng dư nợ cho vay Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản cho vay. Tỷ này càng cao thể hiện chất lượng của các khoản tín dụng của ngân hàng càng kém và ngược lại.2 Tỷ lệ nợ xấu Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = 100% Tổng dư nợ Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN quy định “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”.
Tổ chức tín dụng quy định tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng. Theo Trần Huy Hoàng (2011) “nợ xấu là khi đến hạn trả nợ khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng như cam kết ban đầu, dẫn đến ngân hàng có khả năng không thu hồi được cả nợ gốc và lãi vay. Mặt khác, tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được phát mãi cũng không đủ thu hồi nợ gốc và lãi. Và các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên được tính là nợ xấu” Tỷ lệ nợ xấu cao và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay.
Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy các khoản tín dụng được cải thiện, hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay dổi cách phân loại nợ.3 Dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng = 100% Tổng dư nợ tín dụng 123doc 8 Theo Thông tư số 02/2013/TT - NHNN “dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng chung được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. Dự phòng cụ thể được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ được phân theo nhóm nợ cụ thể.