Chương 1 SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HIỆN THỰC CHIẾN TRANH 1. Chiến tranh – từ góc nhìn sử thi đến góc nhìn đời tư 1. Chiến tranh dưới góc nhìn sử thi Cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta kéo dài hơn hai mươi năm. Chúng ta đã phải đương đầu với một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới.
Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt và kéo dài như vậy, con người buộc phải thích nghi với cuộc sống bất bình thường và một nền văn hóa, văn học thời chiến dần định hình. Đây là một giai đoạn lịch sử đã in dấu những biến động vô cùng to lớn của dân tộc. Chiến tranh cách mạng là một hiện thực hào hùng, sôi động, hoành tráng nhất trong lịch sử chiến tranh vệ quốc. Chưa bao giờ tinh thần cộng đồng, lòng yêu nước lại được khơi dậy mạnh mẽ trong mỗi con người Việt Nam như vậy.
Trước vấn đề sinh tử của cả dân tộc, nhiều thế hệ con người đất Việt đã sẵn sàng hi sinh tất cả, nối tiếp nhau lên đường ra trận. Tinh thần quyết chiến quyết thắng, không ngại khó khăn gian khổ, không tiếc thân mình đã thôi thúc bao lớp thanh niên “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Nhân dân miền Nam – thành đồng Tổ Quốc – bất khuất, can trường vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang chống lại sự đàn áp của đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai. Về mặt văn hóa, đặc điểm nổi bật và bao trùm của nền văn hóa Việt Nam giai đoạn này là được phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đảng ta ngày càng quan tâm đến công tác chỉ đạo văn hóa, văn nghệ. Tư tưởng chỉ đạo đường lối văn nghệ được thể hiện qua những văn kiện của Đảng, những bức thư của Trung ương Đảng gửi văn nghệ sĩ, trong những bài viết của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng cũng như lãnh đạo văn nghệ. 18 Để chiến thắng được đế quốc Mĩ, một kẻ thù hùng mạnh, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực, trong đó có văn học. Trong đời sống văn học, tiểu thuyết chiến tranh được đón nhận nhiệt tình vì nó trực tiếp khẳng định chính nghĩa dân tộc, củng cố niềm tin cho con người.
Đó là những lí do quan trọng khiến tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này phát triển theo khuynh hướng sử thi. Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Phan Tứ và những tiểu thuyết viết trong giai đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu là ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, là khát vọng độc lập tự do, là niềm tự hào về sự nghiệp đấu tranh chống Mĩ hào hùng, vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng. Cảm hứng sử thi lãng mạn bao trùm khiến hiện thực trong tác phẩm luôn được thi vị hóa. Ở hậu phương là những người phụ nữ ba đảm đang, hoàn thành mọi công việc, ngày đêm thi đua với tiền tuyến.
Còn ở tiền tuyến, người chiến sĩ anh dũng giết giặc với một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, vào hòa bình, chính nghĩa. Lí tưởng chiến đấu, tình yêu đôi lứa, tình hậu phương – tiền tuyến đã làm nên sức mạnh và chiến thắng của chúng ta cũng như thất bại thảm hại của kẻ thù. Những nhân vật trong Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Dấu chân người lính phản ánh xu thế của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Những người như Tư Sỏi, Út Sâm, Mẫn, cụ Phang, Xiêm được lột xác, đổi đời nhờ cách mạng và kháng chiến.
Ở trong họ, đời sống ý thức, nhãn quan chính trị luôn được tô đậm. Ngay cả trong tình yêu đôi lứa, một lĩnh vực rất riêng tư cũng trở thành nơi kết tinh những phẩm chất đẹp đẽ của cộng đồng, thời đại, lí tưởng. Đây là cảm nhận của Thiêm về Mẫn, cô du kích can trường của làng Cá: “Qua đôi mắt rất đen còn hay khóc, những ngàn năm trước đang cùng em nhìn giặc Mĩ, cùng làm nên cái tia chớp gan và khôn lạ lùng lóe giữa đôi hàng mi dày khi em sắp đánh một đòn chưa ai nghĩ ra.”… “Chỉ cần nghe em vuốt ve mấy tiếng “anh chủ lực” là anh nhận ra ngay chút hương riêng của tình yêu, 19 không lẫn được trong câu chuyện đánh Mĩ đầy khói thuốc nổ đêm nay” [151, 519-520]. Tình yêu của Sâm cũng vậy: “Dạ, em thương ảnh.
Hễ em còn nghĩ đến Đảng là em còn chờ ảnh. Đối với Sâm, đó là lời hứa cao nhất của tình yêu” [152, 917]. Tình yêu của họ luôn gắn liền với vận mệnh của cộng đồng, của Đảng, của dân tộc. Tuy được phân biệt rạch ròi thành hai tuyến địch – ta, chính diện – phản diện nhưng tâm huyết và dụng công nhất của nhà văn luôn dành cho các nhân vật chính diện.
Họ có thể là một bà má miền Nam trong vùng địch chiếm, là cô du kích, là anh bộ đội… họ là những người anh hùng bách chiến bách thắng. Họ sống và chiến đấu chủ yếu trong tư cách con người chính trị, con người công dân. Những người anh hùng ấy là những nhân vật được lí tưởng hóa một chiều, họ hầu như không có tì vết, không phạm sai lầm. Người đọc hầu như ít thấy họ buồn bã, cô đơn, chán nản hay thất vọng, tuyệt vọng.
Chúng ta ít gặp những trăn trở đời thường trong tâm hồn họ vì những cảm xúc, suy nghĩ của họ đều luôn gắn với lí tưởng, với cộng đồng, đoàn thể. Nhân vật chủ yếu được xây dựng từ góc nhìn bên ngoài chứ không phải từ góc nhìn bên trong nên những chiều sâu, những góc mờ, khuất, tối trong tâm hồn nhân vật không được soi rọi tới. Cảm hứng sử thi bao trùm theo khuynh hướng mô tả nhân vật quá tốt, chỉ có tốt một chiều như thế là một hạn chế của tiểu thuyết chiến tranh. Có thể hiểu là trong cuộc chiến với kẻ thù hung mạnh là đế quốc Mĩ, chúng ta buộc phải chiến thắng bằng bất cứ giá nào vì sự sống còn của dân tộc.
Do đó, các nhà văn buộc phải gác sang một bên những gì không góp phần trực tiếp cho chiến thắng như những mất mát, đau buồn, những thất vọng, cô đơn của nhân vật, của con người. Tuy nhiên, nếu nhìn kĩ lại, trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, “người mở đường tinh anh và tài hoa”, chúng ta đã thấy thấp thoáng đây đó những dấu hiệu của con người đời tư, con người số phận. Đó là cuộc 20 hôn nhân bất hạnh giữa Xiêm, cô gái đồng rừng xinh đẹp và Kiếm, tên lính biệt kích ngụy. Đó là cụ Phang dằn vặt khổ đau giữa một bên là tình cảm với cách mạng và một bên là thằng con biệt kích ngụy.
Đó là bi kịch cá nhân của mối tình ngang trái giữa Xiêm và Lượng, người con gái đã có chồng và anh bộ đội giải phóng chưa vợ… Đây có thể được coi là tín hiệu cho sự xuất hiện kiểu nhân vật bi kịch trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sau này. Mối quan hệ giữa các tuyến nhân vật thường là quan hệ đối lập: địch – ta, cốt truyện được tổ chức theo kết cấu mô hình này. Trong những tiểu thuyết như Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Dấu chân người lính, những sự kiện và biến cố lịch sử thường lấn át sự miêu tả con người. Sự kiện được tổ chức thành chuỗi, có trước có sau, cái trước làm nảy sinh cái sau theo quy luật nhân quả.
Có khi tác giả viết như hoạch định của các nhà quân sự: chuẩn bị, hành quân, tấn công, thu quân. Dấu chân người lính viết về chiến dịch Khe Sanh theo kiểu như vậy: Hành quân, Chiến dịch bao vây, Đất giải phóng. Khi đọc, cảm giác thời gian chảy trôi trong tác phẩm gần gần giống như trong tiểu thuyết chương hồi. Do cảm hứng sử thi tràn ngập, hiện thực lịch sử lớn lao luôn được đặt trong cái nhìn thành kính, tầm vóc của sự kiện, của nhân vật chính luôn cao hơn người kể chuyện.
Khi miêu tả nhân vật, các tác giả chủ yếu sử dụng điểm nhìn bên ngoài. Ngôn ngữ thi vị, mang sắc thái ngợi ca. Giọng điệu hào hùng, thành kính là chất giọng chủ đạo. Tính chất chính nghĩa và vẻ đẹp của cuộc kháng chiến chống Mĩ là điều mà tác giả luôn chú ý khẳng định.
Tóm lại: tiểu thuyết chiến tranh của Phan Tứ và những tiểu thuyết viết trong chiến tranh của Nguyễn Minh Châu được viết theo khuôn mẫu chung của loại hình tiểu thuyết sử thi, được nhìn từ góc nhìn sử thi. Nó chú trọng và cơ bản hoàn thành sứ mệnh tuyên truyền cổ vũ chiến đấu. Phan Tứ, Nguyễn 21 Minh Châu giai đoạn này coi trọng viết cái gì hơn là viết như thế nào, tuyệt đối hóa nội dung và chưa đầu tư nhiều cho nghệ thuật nên không tránh khỏi sự đơn điệu và chưa cho thấy sự tìm tòi đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết. Chiến tranh dưới góc nhìn đời tư Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi và kéo dài đến khoảng mười năm tiếp theo, văn học nước ta nói chung, tiểu thuyết và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng rơi vào tình trạng “mất hẳn độc giả”.
Tình trạng ấy là một thách thức lớn đối với các nhà văn và nhu cầu tất yếu là phải đổi mới. Tiến trình vận động và đổi mới ấy bắt đầu từ sự vận động và đổi mới tư duy tiểu thuyết. Nó nằm trong tiến trình vận động và đổi mới của cả nền văn học Việt Nam sau 1975. Từ giữa thập kỉ tám mươi, trong không khí chung của phong trào đổi mới, các nhà văn đã đưa ra những quan niệm hết sức phong phú về sứ mệnh của nhà văn, của văn chương nói chung, sứ mệnh của tiểu thuyết và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng.
Đó là bước đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Trong bầu không khí dân chủ ấy, các nhà văn đã nhận thức lại thiên chức của mình, ý thức về tư cách nghệ sĩ được tự giác hơn và trở thành nhu cầu cần được khẳng định cấp thiết. Văn nghệ sĩ là những “con chim báo bão”, là “người đi trước”, là người mổ xẻ những ung nhọt của xã hội, của con người, là giúp con người tự nhận thức về thói xấu của mình. “Nhà văn là gì? Chẳng là gì cả.
Nó chỉ là một linh hồn nhỏ đầy lỗi lầm và luôn tìm cách sám hối vượt khỏi những lỗi lầm ấy, là con vật nhạy cảm hết sức đáng thương với các thói xấu của cả bầy đoàn. Nó viết không phải vì nó, nó viết để cả bầy đoàn rút ra từ đấy một lợi ích công cộng, một lợi ích văn hóa”[137, 25].