Chương 1: Dẫn nhập: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Chương này cho thấy lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứu, bao gồm các vấn đề về PPP, mức độ sẵn sàng và các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn sàng. c 6 Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, thiết kê thang đo và phương pháp thu thập dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo (crobach alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích ma trận tương quan, phân tích hồi quy cũng như là các kiểm định cần thiết. Và cuối cúng là thảo luận về kết quả hồi quy của từng nhân tố chính. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này đưa ra các kết luận sau khi phân tích thực nghiệm từ Chương 4. Từ đó các khuyến nghị cũng được đưa ra đối với các bên liên quan.
Cuối cùng những hạn chế của nghiên cứu được đưa ra ở cuối chương 5. Sơ lược về PPP 2. Định nghĩa Mô hình hợp tác công tư đã có một lịch sử lâu đời ở nhiều quốc gia, nhưng phát triển mạnh từ những năm 1980. Trong thời gian này, ý nghĩa của khu vực tư đã được giới thiệu và sử dụng trong khu vực công, tiêu chuẩn nền tảng thị trường đã được áp dụng đối với việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công.
Trong suốt những năm 1990, triết lý quản trị công mới và nền tảng thị trường đã ảnh hưởng sự quản trị công Quan hệ hợp tác công tư (public-private partnerships), còn được gọi là P3 được định nghĩa như là “một sự liên minh tự nguyện trong đó đề cập đến sự hợp tác giữa hai (hoặc nhiều hơn) các tác nhân là cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân, tổ chức phi chính phủ (NGOs) (www, UNDP, 2006, p. Theo quan điểm của ADB, “quan hệ đối tác công–tư (PPP) được hiểu là một cơ chế hợp đồng giữa các đơn vị khu vực công (cấp quốc gia, bang, tỉnh, hoặc địa phương) với các đơn vị thuộc khu vực tư nhân qua đó các kỹ năng, tài sản và/hoặc nguồn lực tài chính của mỗi bên trong khu vực công và tư nhân được phân bố theo cách bổ sung cho nhau, rủi ro và lợi ích được chia sẻ, nhằm đem lại kết quả thực thi dịch vụ tối ưu và giá trị tốt đẹp cho công dân”. Theo quyết định 15/2015/QĐ của thủ tướng Chính phủ, PPP được hiểu như sau: “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.” HM Treasury (1998) định nghĩa PPP là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều thực thể, hợp tác hướng đến mục tiêu chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm, rủi ro và lợi ích, kết nối các nguồn lực đầu tư. Khulumane (2008) lại định nghĩa PPP là một giao kết bằng hợp đồng giữa một đơn vị nhà nước và một đơn vị tư nhân, theo đó đơn vị tư nhân chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm đầu ra phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật mà nhà nước yêu cầu, trong một thời gian cụ thể và đổi lấy lợi ích thường dưới hình thức là khoản tiền thanh toán dịch vụ.
Theo Daube và các cộng sự (2007), PPP là c 8 một hình thức tham gia của khu vực tư nhân, trong đó các đối tác tư nhân mang đến các kỹ năng, vốn, sáng kiến thương mại trong việc cung cấp các dịch vụ cho khu vực công. Theo Jurgita Jakutyte (2012), nhìn chung PPP có một số đặc điểm cơ bản sau: - PPP là một cam kết hợp tác lâu dài giữa khu vực công và khu vực tư - PPP tạo ra một cơ chế năng động, trong đó có sự phân công hợp lý giữa các bên - Chia sẻ trách nhiệm cung cấp các dịch vụ - Phân bổ nguồn lực Khu vực tư nhân đầu tư vốn, kỹ năng, kinh nghiệm, thương mại đổi mới, vv .; Khu vực công cung cấp các kỹ năng, quyền lực chính trị, tài sản, vv. - Chia sẻ quyền lợi và rủi ro 2. Lợi ích của PPP Dự án PPP là một mô hình khá phát triển và được nhiều quốc gia áp dụng nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình.
Theo APTC (2007), PPP thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa những người tham gia dự án, cũng như hạn chế các thủ tục hành chính hoặc phong cách quản lý phân cấp. Hơn nữa PPP mang lại lợi ích cho chính phủ trong việc hình thành tài sản mà không cần phải nhờ đến các khoản vay mượn trong ngắn hoặc dài hạn từ các tổ chức tài chính (Gaffey, 2010). Điều này làm cho chính phủ giảm được gánh nặng trong việc tiếp tục cung cấp các dịch vụ công mà không lo phát sinh các khoản nợ bổ sung hoặc nghĩa vụ tài chính. Farquharson và các cộng sự (2011), Lợi ích của việc cho phép khu vực tư nhân tham gia cung cấp cơ sở hạ tầng được liệt kê như sau: (i) Nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn lực.
Hợp đồng quan hệ đối tác công– tư được quản lý tốt sẽ phân bổ rủi ro tối ưu giữa khu vực công và khu vực tư nhân, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong suốt vòng đời tài sản. Đối tác khu vực tư nhân có động cơ xem xét tác động dài hạn của chi phí thiết kế và thi công có chất lượng so với chi phí duy tu c 9 bảo dưỡng định kỳ và chi tiêu đầu tư trong suốt vòng đời tài sản hoặc chi phí mở rộng trong trường hợp các cơ sở hiện hành. (ii) Cải thiện chất lượng tài sản và dịch vụ. Khi các nhà đầu tư và tổ chức cho vay góp vốn đầu tư vào các dự án quan hệ đối tác công–tư (PPP), các dự án đó phải đối mặt với sự giám sát chặt chẽ hơn bởi các bên bên ngoài chính phủ.
Vì một lượng vốn lớn phải chịu rủi ro, các bên bên ngoài đó thường thực hiện kiểm tra chu toàn cẩn trọng và đảm bảo chất lượng ở mức cao hơn rất nhiều so với quy trình mua sắm công theo chuẩn mực, trong đó các cơ quan công lập dự án và tham gia với thị trường. (iii) Cải thiện về quản lý khu vực công. Quan hệ đối tác công–tư đòi hỏi chính phủ phải tư duy và hành xử theo các cách mới, với những kỹ năng và cách tiếp cận mới, qua đó có thể giúp đẩy mạnh quá trình cải cách môi trường kinh doanh và cải cách kinh tế chung. Chẳng hạn, quan hệ đối tác công–tư có thể là công cụ để nâng cao cạnh tranh hoặc cải cách về mua sắm và cung cấp dịch vụ công, chứ không chỉ là phương tiện tận dụng nguồn lực của khu vực tư nhân qua hiệu ứng đòn bẩy.
Quan hệ đối tác công–tư không chỉ là giao dịch tài chính diễn ra một lần với khu vực tư nhân. Do đó, nó cần được thực hiện trên cơ sở các nền tảng chính sách vững chắc, cam kết chính sách dài hạn, và môi trường quy phạm pháp luật vững chắc và ổn định. Các đối tác tiên tiến tại khu vực tư nhân hiểu điều đó và sẽ tìm kiếm các yếu tố đó khi quyết định về việc tham gia dự án. (iv) Cải thiện chung về mua sắm của khu vực công.
Khi mua sắm các dự án cơ sở hạ tầng theo hình thức quan hệ đối tác công–tư, chính phủ có khả năng tăng cường tổng thể năng lực và các quy trình mua sắm tại khu vực công. Qua việc cơ cấu và thực hiện thành công phương thức quan hệ đối tác công–tư, chính phủ có thể cải thiện quy trình lập kế hoạch chiến lược, năng lực đàm phán và quản lý dự án, duy trì được kỷ luật tài chính, và xây dựng năng lực để quản trị các hợp đồng dài hạn phức tạp. Theo ADB (2012), Khu vực tư nhân thường được cho là đạt hiệu quả cao hơn so với khu vực công trong việc quản lý các dự án hạ tầng và thực hiện các dịch c 10 vụ về hạ tầng. Sự tham gia của khu vực tư nhân đem lại tiềm năng nâng cao hiệu quả hoạt động qua việc đầu tư vào công nghệ mới, đem lại các giải pháp sáng tạo, và khuyến khích áp dụng các cơ cấu tổ chức minh bạch hơn.
Điều này thường đem lại kết quả là cải thiện về điều hành, nâng cao sự minh bạch, tính cạnh tranh và trách nhiệm giải trình, qua đó cải thiện về giá trị sử dụng vốn. Thông thường, các dự án quan hệ đối tác công–tư được đấu thầu một cách công khai và minh bạch trong đó các nhà thầu được cung cấp đủ thông tin về chấm thầu và trao hợp đồng. Đây là vấn đề quan trọng, vì khác với các dự án thực hiện phương thức mua sắm truyền thống, những dự án quan hệ đối tác công–tư đòi hỏi vốn đảm bảo ở mức hạn chế yêu cầu các doanh nghiệp khu vực tư nhân và các nhà cung cấp tài chính của họ không chỉ đấu thầu để nhận quyền cung cấp tài sản công mà còn phải rót vốn ban đầu trong một thoả thuận hợp đồng dài hạn về thẩm quyền mua sắm để thiết kế, xây dựng, vận hành và duy tu bảo dưỡng. Tuy nhiên, Mineta (2006) cho rằng mặc dù PPP mang lại những lợi ích trong việc giảm được gánh nặng của nhà nước trong việc chuyển giao cơ sở hạ tầng và dịch vụ công, nhưng sự tham gia của khu vực tư nhân chỉ có thể giải quyết ở một phạm vi nhất định.
Đồng quan điểm trên, Bekefi và các cộng sự (2003) cho rằng để tiến hành PPP, nhà nước phải bỏ ra chi phí (các khoản hỗ trợ, kích thích đối tác tư nhân, mất nguồn thu phí trong trường hơp đối tác tư nhân được thu phí, …). Xét trong ngắn hạn, nhà nước không phải chi ngân sách nhưng vẫn có nguồn vốn để đầu tư. Tuy nhiên, về dài hạn, tổng chi phí giữa việc nhà nước tự đầu tư so với việc thực hiện PPP có thể là tương đương hoặc lớn hơn (trừ trường hợp đối tác tư nhân xây dựng, thực hiện dự án, cung cấp dịch vụ có hiệu quả hơn so với nhà nước).