Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh Chương 2: Sử dụng hệ thống BTHH lớp 9 nhằm phát triển NLTH cho HS Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 3 Luận văn thạc sĩ Sư phạm Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Quan niệm về tự học trên thế giới Những năm trước công nguyên, Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng dạy học phải quan tâm đến việc kích thích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt làm theo sách.
Trên thế giới, nhiều nhà giáo dục cho rằng việc dạy học phải tạo được sự hứng thú, kích thích sự tìm tòi, phát huy tính tư duy sáng tạo cho HS, thầy giáo chỉ là người lập kế hoạch, người hướng dẫn. Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học như: - “Tự học như thế nào” của N. Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản năm 1982 giúp bạn đọc biết cách tự học tập, tự nâng cao kiến thức toàn diện của mình [25]. - “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” chủ biên là Klas Mellander, các tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [14].
- “Phương pháp dạy và học hiệu quả” của Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ, dịch giả là Cao Đình Quát đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái gì và học như thế nào?; Dạy cái gì và dạy như thế nào? [10]. - “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW. Green J, dịch giả là Trần Vũ Thạch đã được tái bản lần thứ 25. Cuốn sách này, tác giả chỉ ra cách kết hợp các phương pháp như phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phương pháp trở thành sinh viên giỏi hơn.
sẽ tạo thành một sinh viên đạt toàn điểm 10. - “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” của Adam Khoo, dịch giả là Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy, đã được NXB Phụ nữ xuất bản năm 2008. Tác giả đã chứng tỏ khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [1]. Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam Tự học là một trong những truyền thống quý báu của nhân dân ta.Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam – cả cuộc đời Bác là tấm gương lớn về tự học.Bác đã từng nói “còn sống thì còn học”, “phải lấy tự học làm cốt”.Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học 4 Luận văn thạc sĩ Sư phạm tự phát vì khi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển NLTH của HS.Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệp giáo dục của Người trong lý luận và thực tiễn. Thủ tướng chỉ rõ: “phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiêncứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại”[19].Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin. Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng. Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn.
Trong thực tế một người có thể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học. Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả trên khẳng định: cần phải đưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiện quan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho HS. Đồng thời đã đưa ra nguyên tắc, quy trình lựa chọn và biện pháp sử dụng bài tập nói chung và BTHH nói riêng nhằm phát triển NLTH.
Các thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này. Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức lựa chọn và sử dụng các dạng BTHH lớp 9 – THCS để phát triển NLTH cho HS chưa có đề tài nào nghiên cứu. Do đó, để đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết đưa ra các biện pháp sử dụng BTHH nhằm phát triển NLTH cho HS trong quá trình dạy học môn Hoá học là hết sức cần thiết. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong thời gian gần đây, quan điểm chỉ đạo đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và Đào tạo càng cho thấy tính cần thiết phải xây dựng một cách có hệ thống các dạng bài tập mang tính vận dụng thực tế cao.
Qua tìm hiểu, tôi thấy đã có một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề này như: - Nhóm tác giả Đặng Thị Oanh, Trần Trung Ninh, Đỗ Công Mỹ (2006). Câu hỏi lý thuyết và BTHH THPT. Hóa học đại cương và vô cơ, NXBGD, Hà Nội - Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Đĩnh, Lê Xuân Trọng (2001), Bài tập định tính và câu hỏi thực tế Hóa học 12. Hóa học hữu cơ, NXBGD, Hà Nội.
- Nhóm tác giả Lương Thiện Tài, Hoàng Anh Tài, Nguyễn Thị Hiển (2007),Xây 5 Luận văn thạc sĩ Sư phạm dựng BTHH thực tiễn trong dạy học phổ thông, Tạp chí Hóa học và ứng dụng, số 64. Và một số công trình khoa học Luận văn Thạc sĩ các tác giả: - Vũ Văn Ban (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học về sơ đồ, hình vẽ và đồ thị nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trung học phổ thông, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội. - Nguyễn Tuấn Anh (2013), Nâng cao năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh thông qua hệthống bài tập phần Este – lipit, Hóa học 12 cơ bản, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội. - Mai Thị Hiền (2015), Sử dụng hệ thống BTHH chương Nitơ – photpho Hóa học 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các công trình khoa học này là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu, áp dụng phát triển NLTH cho HS,tuy nhiên việc lựa chọn và sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH thì chưa được quan tâm đúng mức. Như vậy, việc lựa chọn đề tài của chúng tôi là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS. Định hƣớng đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể 1. Định hướng về nội dung giáo dục Theo các tác giả [2, 3, 4]: Bên cạnh vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và NL chung cho HS, giáo dục khoa học tự nhiên có sứ mệnh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục HS tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường.
Thông qua các hoạt động học tập của lĩnh vực này, HS dần hình thành và phát triển NL tìm hiểu và khám phá thế giới tự nhiên qua quan sát và thực nghiệm, NL vận dụng tổng hợp kiến thức khoa học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện trong nhiều môn học, cốt lõi là các môn Cuộc sống quanh ta (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu tự nhiên (lớp 4 và lớp 5), Khoa học tự nhiên (THCS), Vật lý, Hóa học, Sinh học (trung học phổ thông). Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục khoa học tự nhiên được phân chia theo hai giai đoạn. - Giai đoạn giáo dục cơ bản Nội dung chủ yếu của môn học Khoa học tự nhiên là tích hợp các lĩnh vực kiến thức về Vật lý, Hóa học, Sinh học; được tổ chức theo các mạch nội dung (vật chất, sự sống, năng lượng, Trái Đất, bầu trời); các nguyên lý và quy luật chung của thế giới tự 6 Luận văn thạc sĩ Sư phạm nhiên (tính cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, quy luật vận động và biến đổi); vai trò của khoa học đối với sự phát triển xã hội; vận dụng kiến thức khoa học trong sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách bền vững.
Cấu trúc nội dung môn Khoa học tự nhiên ở THCS gồm các chủ đề phân môn (Vật lý, Hóa học, Sinh học), các chủ đề liên môn, nhằm hình thành các nguyên lý, quy luật chung của thế giới tự nhiên. Các nội dung này được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp một số kiến thức đồng tâm. - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện chủ yếu qua các môn học Vật lý, Hóa học và Sinh học. Ở lớp 10, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học bắt buộc.
Nội dung các môn học này được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời gắn kết với đời sống và góp phần định hướng nghề nghiệp. Ở lớp 11 và lớp 12, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học tự chọn bắt buộc dành cho HS có thiên hướng khoa học tự nhiên, công nghệ. Nội dung các môn học này được thiết kế vừa đảm bảo phát triển năng lực chung và năng lực tìm hiểu tự nhiên, vừa giúp HS định hướng ngành nghề tương lai.