Chương 1: Cơ sở lí luận về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS 1. Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm 1. Khái niệm rối loạn trầm cảm Có rất nhiều khái niệm về rối loạn trầm cảm của các tác giả trong và ngoài nước, nhưng trong luận văn này, tác giả sử dụng những khái niệm về rối loạn trầm cảm như sau: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Rối loạn trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung”. “Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc đương đầu với cuộc sống hằng ngày của một cá nhân.
Ở dạng nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Nếu nhẹ, người bị trầm cảm có thể được chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng, người bệnh cần được hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp với biện pháp tâm lý. Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – IV, 1984): “Trầm cảm là trạng thái rối lopanj cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mopirvaf giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”[3].Lý thuyết nhận thức của Aaron T.
Beck về cơ bản nói rằng có những cá nhân dễ bị trầm cảm có niềm tin tiêu cực. Họ có thể có cái nhìn tiêu cực về bản thân họ, thấy mình vô giá trị, không thể tha thứ, họ có cái nhìn tiêu cực về môi trường của họ, nhìn thấy nó như là áp đảo, đầy chướng ngại vật và thất bại. Họ có một cái nhìn tiêu cực về tương lai của họ, nhìn thấy nó như là vô vọng và tin rằng không có nỗ lực nào sẽ sẽ thây đổi cuộc sống của họ. Ba yếu tố này được gọi là bộ ba nhân thức.
Cách tư duy tiêu cực hướng dẫn nhận thức [1]. Trong từ điển Tâm lý học của J., trầm cảm được phân thành hai loại: một được xem như hiện tượng tâm lý có thể xuất hiện ở bất kỳ cá nhân bình thường nào, đặc trưng bởi tình trạng buồn bã, ít hy vọng, cảm xúc nghèo nàn, lười hoạt động và sự chán nản về tương lai; một được xét theo góc độ tâm bệnh học, 10 trầm cảm là tình trạng nghiêm trọng của việc không phản ứng với những kích thích bên ngoài cùng với việc tự hạ thấp giá trị của bản thân, hoang tưởng về sự không thỏa đáng và sự vô vọng [20, tr. Colman định nghĩa rõ hơn: “trầm cảm là một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoạc mất sự thõa mãn, hài lòng trong những hoạt động trước đây”. Ông nhấn mạnh thêm trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, nghĩa là vượt sang mức bệnh lý, có thể xảy ra “chứng biếng ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ (đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự tử.
Nó xuất hiện như nhiều triệu chứng của rối loạn tâm thần”. Theo hiệp hội Tâm thần Mỹ, trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí sắc. Tùy thuộc vào sự xuất hiện hay không của các cơn hưng cảm mà người ta phân ra làm hai loại: Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn lưỡng cực [9, tr. Nguyễn Khắc Viện đã dùng từ trầm nhược thay cho trầm cảm và xem nó không chỉ là một trạng thái tâm lý mà còn bao gồm cả khía cạnh thể chất: “ Trầm là chìm xuống, mất hào hứng, sôi nổi; tính khí buồn bã, chán chường, bi quan,” còn “nhược là suy yếu, uể oải, không muốn cử động, tay chân mệt mỏi, mặc dù không có bệnh gì rõ rệt”.
Cũng trong từ điển Tâm lý học, Nguyễn Khắc Viện còn đưa ra những triệu chứng lâm sàng của trầm cảm: “trầm cảm là tâm trạng buồn lo, kết hợp với ức chế vận động và tâm trí. Dễ có cảm tưởng tội lỗi, bản thân suy sụp, không chữa được, có khi dẫn đến tự sát. Trong chứng loạn tâm hưng trầm hay xuất hiện những cơn tầm cảm muộn: mặt mũi đờ đẫn, vai rụt xuống, nét mặt đau khổ, ít nói, nói rằng mình không còn cảm giác gì nữa, thờ ơ, đau khổ vì thấy cuộc sống bản thân không còn ý nghĩa, thấy mình vô tích sự, bất lực, không còn khả năng nghĩ về ngày mai. Ý nghĩ quanh quẩn với những dề tài đau ốm, tội lỗi, tai ương, suy sụp, có cảm tưởng bị truy bức.
Hoạt động tâm trí bị ức chế nghiêm trọng”. Với các khái niệm trên, trầm cảm được xem xét biểu hiện ở các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể và hành vi. 11 Tuy nhiên Nguyễn Khắc Viện đề cập đến khái niệm trầm cảm với một loạt các triệu chứng về tâm lý và cơ thể trong cơn hưng trầm cảm. Trên phương diện Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng trầm cảm là “trạng thái cảm xúc xuất hiện trên cơ sở cảm xúc âm tính, thay đổi động cơ, trí tuệ (gắn với nhận thức) và sự thụ động nói chung của hành vi”.
Trong đó có một số biểu hiện về cảm xúc, nhận thức và hành vi như: cảm xúc nặng nề, đau khổ và u uất, hứng thú, say mê, nỗ lực ý chí giảm, xuất hiện cảm giác tội lỗi, bất lực, vô vọng; tự đánh giá giảm sút; chậm chạp, mệt mỏi [5, tr. Như vậy, khái niệm về trầm cảm đã được xem xét là một trạng thái tâm lý về mặt cảm xúc có ảnh hưởng đến hành vi, nhận thức. Trầm cảm trong cấu trúc ba khía cạnh tâm lý con người: nhận thức – hành động – tình cảm. Qua những khái niệm về trầm cảm nêu ở trên, cho thấy dù rối loạn trầm cảm dược dùng dưới nhiều tên gọi khác nhau như trầm nhược, trầm uất nhưng đều có chung ý nghĩa nội hàm và được tiếp cận dưới 2 góc độ: góc độ Tâm lý học và góc độ tâm bệnh học.
Dưới góc độ tâm lý học, có thể xem trầm cảm là một trạng thái tiêu cực, âm tính kéo dài và ảnh hưởng nặng nề đến hầu hết các mặt trong đời sống tâm lý của con người, tình cảm, nhận thức và hành động ý chí. Dưới góc độ tâm bệnh học, trầm cảm được gọi là bệnh tâm lý ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt cá nhân, quan hệ xã hội và công việc của chủ thể. Khi đó, trầm cảm phải được quan sát thấy biểu hiện ở cả tâm lý và mặt cơ thể. Khái niệm trầm cảm của tác giả Lê Minh Thuận (2016), Nghiên cứu trầm cảm ở sinh viên đại học”, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học xã hội: “Trầm cảm là trạng thái suy giảm tâm lý kéo dài, gây ra những hậu quả tiêu cực cho hoạt động và được biểu hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc, và hành vi của cá nhân” [18].
Như vậy, qua những phân tích ở trên đây, người nghiên cứu sử dụng khái niệm RLTC theo quan niệm của DSM - IV như sau: “RLTC là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”. Đây là khái niệm mà luận văn sử dụng làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài: “Rối loạn tầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh”. Cách phân loại rối loạn trầm cảm theo DSM IV và ICD – 10 Có thể phân loại rối loạn trầm cảm theo nhiều cách khác nhau, trong đó phải kể đến các cách phân loại rối loạn trầm cảm nguồn gốc uy tín từ Mỹ như DSM III, DSM IV, DSM V, ICD10, ICD11… Mặc dù hiện tại, ICD - 11 đã ra đời, tuy nhiên Bộ Y tế chưa đưa vào ứng dụng rộng rãi, nguồn ICD - 11 chưa được dịch và chuẩn hóa để đưa vào thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Nên trong luận văn này, tác giả sử dụng ICD-10 để phân loại rối loạn trầm cảm vì ICD - 10 được chấp nhận rộng rãi nhất hầu hết ở các quốc gia.
Tại Việt Nam ICD - 10 có tính pháp lý cao, được Bộ Y tế dịch và ban hành dùng để phân loại bệnh tật trong khám lâm sàng và về cơ bản cách phân loại rối loạn trầm cảm theo ICD -10 không có khác biệt so với DSM IV. Tiêu chuẩn DSM IV dùng chẩn đoán trầm cảm: Trong vòng hai tuần, hầu như mỗi ngày: tính khí sầu muộn và/hoặc từ chối những nguồn vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệu chứng sau: Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng. Mất ngủ hoặc ngủ triền miên. Kích động hoặc trở nên chậm chạp.
Mệt mỏi hoặc mất sức. Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi. Giảm khả năng tập trung, do dự. Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.
Không còn ham muốn các lĩnh vực trong cuộc sống như âphim ảnh, các hoạt động thế thao các hoạt động xã hội rơi vào trạng thái buồn không lý do,chán nản không muốn phấn đấu, làm việc. Người trầm cảm luôn có cảm giác bị bỏ rơi, bị mọi người xa lánh. Theo ICD 10 – Bảng phân loại quốc tế bệnh tật của World Health Organization phân loại rối loạn trầm cảm [22] như sau: - F32. Các giai đoạn trầm cảm điển hình nhẹ, trung bình hoặc nặng.
Bệnh nhân bị giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động. Khả năng thích thú, quan tâm, tập trung đều giảm sút và thường mệt mỏi rõ rệt sau khi cố gắng dù là rất ít. Thường có rối loạn giấc ngủ và ăn kém ngon miệng.