Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vấn đề nghiên cứu trên thế giới 1. Quy hoạch vùng lãnh thổ của một số nước trê thế giới 1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây a.
Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari - Sử dụng hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước - Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng. - Xây dựng đồng bộ môi trường sống. - Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng: + Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ. + Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát. + Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người. + Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. + Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước, tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương. Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ, bao gồm các vùng lớn, ranh giới bằng một tỉnh hoặc lớn hơn một tỉnh. Nhiệm vụ khảo sát quy hoạch lãnh thổ vùng, trong đó có quy hoạch vùng nông nghiệp là sự bố trí đúng đắn và hợp lý các hoạt động khác trên lãnh thổ n 5 vùng, sử dụng một cách có hiệu quả nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên, liên hiệp với các môi trường sống, hoàn thiện mạng lưới nông thôn. Nội dung của quy hoạch vùng Đồ án quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết các liên hiệp nông - công nghiệp và liên hiệp công - nông nghiệp và giải quyết các vấn đề sau: - Cụ thể hóa và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.
- Phối hợp hợp lý sản xuất nông nghiệp và công nghiệp với mục đích liên kết dọc. - Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất. - Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn. - Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động ăn, ở, nghỉ ngơi [24].
Quy hoạch vùng ở Pháp Theo quan điểm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng M.Pierre Thénevin), một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công miền Tây Nam nước cộng hòa Coote d’ivoire. Trong mô hình quy hoạch vùng này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc: a. Các hoạt động sản xuất - Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, tham canh trung bình và cổ điển.
- Hoạt động khai thác rừng - Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, dịch vụ, thương mại… n 6 b. Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp. Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực. Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hóa trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài [24].
Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan Công tác quy hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970. Về hệ thống phân vị, quy hoạch tiến hành theo 3 cấp: Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương. Vùng (region) được coi như một á miền (subdivision) của đất nước. Đó là điều kiện cần thiết để phân chia quốc gia thành á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình… đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: Đơn vị hành chính, đơn vị bầu cử.
Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất nước. Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn diện tích của một đơn vị hành chính lớn nhất. Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo hai cách: - Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia. - Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan, n 7 tập trung xây dựng ở hai vùng là vùng trung tâm và vùng Đông Bắc. Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mac - Lê Nin Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bổ và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra rằng: “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn ở chỗ sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức nào”.
Lê Nin chỉ ra rằng: “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bổ lực lượng sản xuất”. Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bổ lực lượng sản xuất ở một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó. Dựa trên cơ sở học thuyết Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo nguyên tắc sau: - Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động của tất cả các vùng vào tái sản xuất mở rộng.
- Kết hợp tốt lợi ích kinh tế của nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng tỉnh, từng huyện. - Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế chi phí vận chuyển. - Kết hợp chặt chẽ các nghành kinh tế quốc dân ở từng vùng nhằm nâng cao năng xuất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên [24]. Quy hoạch lâm nghiệp Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển nên khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy.
Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển”, tức là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn [26]. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài, và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức chia đều của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm.
Đến năm 1816 xuất hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm. Sau đó phương pháp “bình quân thu hoạch” ra đời. Quan điểm của phương pháp này là giữ đến mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Đến cuối thế kỷ 19 xuất hiện phương pháp “lâm phần kinh tế” của Judeich.
Ông cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ đưa vào diện khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau. n 9 Phương pháp “Bình quân thu hoạch” sau này gọi là phương pháp cấp tuổi chịu ảnh hưởng của “lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên phong phú.
Phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện là phương pháp “lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể mỗi lâm phần để tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng. Cũng từ phương pháp này, còn phát triển phương pháp “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”[26]. Tại Châu âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ xx, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên gọi “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”.