Chương 1 C SỞ Ý UẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI Đ N VỊ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG ẬP 1. Quản trị tài chính 1. Quản trị Quản trị và quản lý đều là những khái niệm rất rộng, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống nhất hoàn toàn nào về khái niệm này. Theo tiếng Anh quản trị là “Administration” và quản lý là “Management” [25, Tr.
Quản trị và quản lý là hai khái niệm song hành, thường được sử dụng thay thế cho nhau, có thể dẫn đến hiểu lầm. Tuy nhiên, giữa hai khái niệm này vẫn có những sự khác biệt nhất định. Thuật ngữ “quản lý” gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội tức là quản lý ở tầm vĩ mô. Còn thuật ngữ “quản trị” thường dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp.
Chức năng quản trị là đưa ra quyết định trong việc lập kế hoạch, kiểm tra, giám sát và sử dụng các nguồn lực hợp lý tiết kiệm. Từ các nghiên cứu trên có thể đưa ra khái niệm về quản trị như sau: Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức hoạt động, kiểm soát hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất so với mục tiêu đã định trước. Ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế).
Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất. Quản trị tài chính Có một số định nghĩa khác nhau về quản trị tài chính như: Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức [49]. Trong luận văn này, khái niệm quản trị tài chính được xác định như sau: Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp Quản trị tài chính của một tổ chức là các hoạt động nhằm bố trí và phân phối các dòng tiền tệ trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ phù hợp trực tiếp với các kế hoạch.
Nói một cách khác, quản trị tài chính là quản trị nguồn vốn (bao gồm vốn tiền mặt, vốn, tài sản và các quan hệ tài chính phát sinh như: khoản phải thu - khoản phải trả) nhằm tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức. Tài chính là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phán ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt các mục tiêu hoạt động của tổ chức. Mục tiêu của quản trị tài chính Quản trị tài chính của một tổ chức công lập hướng đến thu chi từ các nguồn kinh phí khác nhau phục vụ cho hoạt động cơ quan. Hoạt động quản trị tài chính trong các đơn vị công lập không hướng tới lợi nhuận mà hướng tới phục vụ cộng đồng, xã hội, sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vai trò của quản trị tài chính Quản trị tài chính có các vai trò sau: Huy động, tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức. 8 Các nguồn tài lực của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Kết quả phân phối của tài chính là sự hình thành hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định cho các mục đích khác nhau của tổ chức. Giám sát, kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Lý luận về quản trị tài chính tại đơn vị sự nghiệp khoa học công lập 1. Đơn vị sự nghiệp khoa học công lập 1. Hoạt động sự nghiệp a. Khái niệm Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động trực tiếp đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội.
Hoạt động sự nghiệp (HĐSN) có liên quan đến toàn bộ hoạt động của xã hội loài người. Mặc dù trong xã hội tồn tại nhiều loại hoạt động khác nhau nhưng nếu quy theo tính chất thì có hai loại hoạt động lớn là: hoạt động sản xuất kinh doanh và HĐSN. Sự nghiệp với nghĩa thông thường chỉ những hoạt động có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội. Vì vậy, trên một phương diện nào đó, khi nói đến HĐSN là nói đến quá trình tổ chức thực hiện những hoạt động có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội.
Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và HĐSN là: hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tạo ra sản phẩm vật chất, mang lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể của tổ chức hoạt động đó. HĐSN chủ yếu cung cấp các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu chung, vì lợi ích của cộng đồng về mặt kinh tế cũng như xã hội. Từ cách tiếp cận như vậy, người ta coi HĐSN chủ yếu mang ý nghĩa phục vụ cho hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội. Tùy theo các hoạt động 9 phục vụ cho các mục đích kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, môi trường,… người ta gọi là HĐSN kinh tế, HĐSN văn hóa - xã hội, HĐSN giáo dục, HĐSN môi trường… b.
Những đặc điểm cơ bản của hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp nhằm gắn với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần tạo ra “hàng hóa công cộng” ở dạng vật chất, và phi vật chất phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các HĐSN để cung cấp những sản phẩm cho thị trường nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng. Hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, thực hiện một cách triệt để có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia.
Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú. Dưới các tiêu chí khác nhau, HĐSN có thể được phân loại như sau: Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các HĐSN được chia thành: HĐSN kinh tế; HĐSN văn hóa - xã hội; HĐSN giáo dục, đào tạo; HĐSN môi trường; HĐSN khoa học công nghệ. Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính, HĐSN được chia thành HĐSN có thu và HĐSN không có thu. Hoạt động sự nghiệp có thu: Là HĐSN mà nhu cầu tài chính đảm bảo cho chúng hoạt động ngoài việc do Nhà nước cung cấp còn được thu một phần dưới dạng phí, lệ phí và các khoản đóng góp của người tiêu dùng để không ngừng nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô hoạt động.
Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là HĐSN do Nhà nước đảm bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính cho các hoạt động. Những hoạt động này thường là những hoạt động thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi. 10 Căn cứ vào tính chất hoạt động, HĐSN được chia thành HĐSN thường xuyên và HĐSN không thường xuyên. Hoạt động sự nghiệp thường xuyên: Là HĐSN được tổ chức và duy trì hoạt động liên tục mà sản phẩm dịch vụ của nó cung cấp ra xã hội luôn có nhu cầu tiêu dùng.
Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên: Là HĐSN để thực hiện các chương trình, mục tiêu của Chính phủ, của các cơ quan quản lý trong một giai đoạn nhất định. Đơn vị sự nghiệp công lập a. Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do Nhà nước thành lập, thực hiện cung cấp các dịch vụ công và các dịch vụ khác nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân, trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép thu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động. Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương.
- Được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nước quy định. - Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp. - Mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để quản lý các khoản thu chi tài chính. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận Các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội.
Trong quá trình 11 hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà nước cấp kinh phí hoặc tự trang trải kinh phí, nhưng không vì mục đích lợi nhuận. Các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp công lập nếu cần được “khuyến dụng” thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng. Trường hợp có thu tiền của người tiêu dùng thì chỉ thu nhằm bù đắp chi phí đầu vào để tạo ra chúng. Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và có tính lâu dài Sản phẩm, dịch vụ do HĐSN tạo ra chủ yếu là những giá trị về trí thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội.Là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng.