CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI TO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Để tìm hiểu về rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng trước hết cần tìm hiểu thế nào là rủi ro ? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro: Theo Frank Knight (1921), rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được [22]. Theo Allan Willet (1951), rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi [19].
Theo Nguyễn Hải Sản (1996), rủi ro thường được định nghĩa là xác suất có thể xảy ra một thiệt hại. Nó là sự may rủi về một hậu quả không có lợi hay là sự tiến triển dẫn tới kết quả gây ra một thiệt hại kinh tế đối với cá nhân hoặc một công ty [17]. Các định nghĩa đó đều có điểm chung là đề cập đến hai vấn đề: - Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc. - Một khả năng xấu: một biến cố không mong muốn.
Tuy nhiên, không phải một sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào đó có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Như vậy, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động ngân hàng luôn hàm chứa rủi ro, đặc biệt và thường xuyên là rủi ro tín dụng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo The World Bank, rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không được chi trả toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển 5 tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Theo Phan Thị Thu Hà (2005), rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng [3]. Như vậy, khi ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng thì ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro khách hàng không thể trả đầy đủ gốc, lãi hay cả gốc và lãi của khoản vay đúng cam kết. Khi thực hiện giao dịch tín dụng, từ lúc giải ngân cho đến khi thu hồi vốn về lúc này ngân hàng chưa biết chắc giao dịch đó hoàn thành hay không.
Do đó, rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó 1. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro tín dụng, sử dụng tiêu chí nào là phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau [4]: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ tại tập trung Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng 6 - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Ngoài tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro, người ta còn phân loại theo các tiêu chí khác như phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân phát sinh rủi ro; phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay, phân loại theo khả năng trả nợ… 7 1.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Kinh doanh ngân hàng cũng giống như bất kỳ các hoạt động kinh doanh khác luôn luôn đối diện với rủi ro. Vì vậy, việc nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro rất quan trọng, trên cơ sở đó mà ngân hàng đưa ra biện pháp phòng ngừa hiệu quả và giảm thiệt hại cho chính bản thân mình. Có các nhóm nguyên nhân cơ bản sau [4]: 1.1 Nguyên nhân khách quan a) Rủi ro do môi trường kinh doanh Sự biến động của nền kinh tế Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, bao giờ chủ thể kinh doanh cũng tiến hành đánh giá tình hình thị trường, đưa ra dự báo phát triển thị trường và chuẩn bị mọi tình huống cho sự biển động của thị trường cũng như nền kinh tế vĩ mô. Những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô tác động có thể theo chiều hướng thúc đẩy, khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển của các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong trường hợp môi trường kinh tế vĩ mô mang yếu tố bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể vay vốn ngân hàng, có thể là nguyên nhân dẫn đến RRTD. Sự biến động của các yếu tố môi trường kinh tế có thể là: + Chu kỳ kinh tế cũng tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, tăng trưởng ổn định dẫn đến người đi vay vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thuận lợi, lợi nhuận thu được ỏn định theo như dự kiến, khả năng trả nợ vốn vay là tương đối chắc chắn theo kế hoạch. Ngược lại khi nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, sức mua giảm sút, người đi vay vốn rất khó trong tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn do vậy khả năng trả nợ ngân hàng giảm sút dẫn tới RRTD cho ngân hàng + Lạm phát tăng cao khiến cho chi phí đầu vào tăng cao, dẫn đến chỉ số giá của các loại hàng hóa cũng tăng cao và ảnh hưởng tiêu cực đến việc tiêu thụ hàng hóa trên thị trường của các doanh nghiệp.
Điều này sẽ khiến cho doanh thu giảm kéo theo lợi nhuận giảm và có thể làm cho doanh nghiệp giảm khả năng trả nợ đối với ngân hàng. + Thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi một cách nhanh chóng, nếu các doanh 8 nghiệp không thể nắm bắt được và có chiến lược dài hạn phù hợp sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình thậm chí có thể dẫn đến phả sản nếu sản phẩm không được tiêu thụ trên thị trường. + Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. + Sự biến động của lãi suất, thị trường chứng khoán, giá nguyên vật liệu.
+ Vấn nạn hàng nhập lậu. + Thị trường lao động. + Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Rủi ro tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa tài chính Quá trình này tăng khả năng xảy ra rủi ro khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt, thậm chí không lành mạnh khiến hầu hết các những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ do yếu thế so với các doanh nghiệp nước ngoài cũng như có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh đó, bản thân các ngân hàng trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng gia tăng sự cạnh tranh, khiến cho các ngân hàng với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng. Quy hoạch và đầu tư chưa hợp lý Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ phải cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ đầu từ vào ngành sinh lợi nhanh, tức thời, chiếm lĩnh thị trường tốt và sẽ rời bỏ những ngành họ cho rằng lâu sinh lời, chậm phát triển, có yếu tố trung dài hạn. Do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác. Quá trình này đối với nước ta hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động.
Sự bất lực trong vai trò của các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước dẫn đến sự gia tăng khó kiểm soát được vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên, thậm chí gây rủi ro lớn đối với quốc gia. b) Rủi ro do môi trường chính trị-pháp luật Nền chính trị quốc gia ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, là điều kiện thuận lợi thu hút, gọi vốn đầu tư. Ngược lại, môi trường chính trị kém ổn định, xảy ra xung đột, chiến tranh,. tất yếu dẫn đến sản xuất ngừng trệ, doanh 9 nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng, điều này khiến RRTD là rất cao Hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, tuân thủ đúng pháp lụât.