phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Phát triển nhân lực và Thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Phát triển nhân lực và Thƣơng mại Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2,tr. Theo giáo trình Nguồn nhân lực của Trƣờng Đại học Lao động – Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động” [13,tr7].
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Trƣớc hết, nguồn nhân lực của doanh nghiệp chính là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp huy động đƣợc cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Khả năng lao động của một con ngƣời là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc, nó bao gồm các nhóm yếu tố: sức khoẻ, trình độ (kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng… Hay nói cách khác khả năng lao động là tập hợp các yếu tố sức khỏe và các yếu tố thuộc trình độ của con ngƣời.
Các loại khả năng lao động phù hợp với nhu cầu đến đâu, đồng bộ từ các khâu: đảm bảo việc làm, tài chính, công nghệ, vật tƣ, tổ chức sản xuất… đảm bảo 9 đến đâu thì chất lƣợng nguồn nhân lực của doanh nghiệp cao, mạnh đến đó. Sức mạnh của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với sức mạnh của lực lƣợng lao động, sức mạnh của đội ngũ lao động, của doanh nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh hợp thành từ sức lao động của các nhóm ngƣời lao động, sức mạnh hợp thành từ khả năng lao động của từng ngƣời lao động. Điểm khác biệt và vƣợt trội của nguồn nhân lực so với những nguồn lực khác là ở chỗ nguồn nhân lực mang bản chất con ngƣời với những năng lực sáng tạo, với những nhu cầu, động cơ, đặc điểm tâm sinh lý các cá nhân khác nhau.
Họ có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc vào sự tác động của môi trƣờng chung quanh. Nhƣ vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con ngƣời của một quốc gia đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; “Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con ngƣời của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Thực chất đó là tiềm năng của con ngƣời về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu” [5].
Điều này hoàn toàn đƣợc khẳng định bởi vì tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con ngƣời thực hiện và quay lại phục vụ cho con ngƣời. Con ngƣời phân tích, dự báo nhu cầu thị trƣờng, các đối thủ cạnh tranh, quyết định chiến lƣợc, kế hoạch, phƣơng án kinh doanh; sản phẩm - khách hàng với chất lƣợng và số lƣợng xác định; con ngƣời sáng tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành máy móc thiết bị và không ngừng cải tiến, hiện đại hoá máy móc, thiết bị; con ngƣời xác định nhu cầu vốn, nhu cầu vật tƣ, nhu cầu lao động và tổ chức việc đảm bảo các đầu vào quan trọng đó… Trong thời đại ngày nay, dù khoa học kỹ thuật tiến bộ nhanh chóng, các máy móc, thiết bị hiện đại ra đời nhƣng vẫn 10 cần đến con ngƣời điều khiển và vận hành, nếu không có yếu tố con ngƣời thì các yếu tố khác trong doanh nghiệp đều vô nghĩa. Từ đó, khái niệm nguồn nhân lực tiếp cận trong luận văn: “Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và có thể huy động được cho việc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp”. Các yếu tố cấu thành của NNL trong doanh nghiệp bao gồm: Số lượng nhân lực: đƣợc biểu hiện thông qua các quy mô, tốc độ gia tăng.
Sự phát triển về số lƣợng NNL dựa vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cơ cấu nhân lực: đƣợc thể hiện trên các phƣơng diện nhƣ cơ cấu giới tính, độ tuổi, thâm niên trong nghề. Cơ cấu lao động ảnh hƣởng tới việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng nhân lực: đƣợc nghiên cứu trên các khía cạnh trình độ (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật), kiến thức, kỹ năng, thể lực, thái độ tác phong lao động của nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực Phát triển: là sự vận động theo chiều hƣớng đi lên, là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Hiện nay, các Tổ chức thế giới và các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực. Theo Mai Thanh Lan: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra một môi trƣờng tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc, sử dụng các chiến lƣợc nhằm đạt đƣợc sự tối ƣu về số lƣợng, cơ cấu và sự phân bố nhân lực một cách hiệu quả nhất”[14]. 11 Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012), thì phát triển nhân lực đƣợc hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân ngƣời lao động đƣợc họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ [2].
Từ đó học viên tiếp cận, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là bao gồm tất cả các hoạt động nhằm đáp ứng đủ về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực doanh nghiệp cần, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Phát triển NNL trong doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một bộ phận trong một tổng thể nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ. Đó là khả năng lao động mà doanh nghiệp có thể huy động đƣợc từ nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ. Hai là: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp không phải chỉ là phép cộng giản đơn khả năng lao động riêng lẻ của từng con ngƣời trong doanh nghiệp mà phải là sự “cộng hƣởng” khả năng lao động của những con ngƣời đó, tức nó phụ thuộc vào khả năng làm việc theo nhóm của những con ngƣời trong doanh nghiệp.
Ba là: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải đƣợc hoạch định từ mục tiêu của doanh nghiệp. Nó khác với phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ là gắn liền với chiến lƣợc, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ đó. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải xuất phát từ mục tiêu chiến lƣợc của doanh nghiệp và hƣớng đến giải quyết mục tiêu đó. 12 Bốn là: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một nguồn lực bên cạnh các nguồn lực khác là vốn, công nghệ.
nhƣng khác với các nguồn lực khác về tính chất và vai trò của nó đối với doanh nghiệp. Đó là nó mang bản chất con ngƣời nên chịu sự chi phối của các yếu tố tâm sinh lý, quá trình sử dụng nó sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó; đồng thời, nó đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Năm là: Xét về mục tiêu, nếu nhƣ quản trị nguồn nhân lực có mục tiêu là tối ƣu hoá kết quả của doanh nghiệp thì phát triển nguồn nhân lực là nâng cao khả năng lao động mà doanh nghiệp có thể huy động đƣợc để hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Đảm bảo về số lượng nguồn nhân lực Nhƣ đã biết, đặc trƣng cơ bản trƣớc tiên của một nguồn nhân lực chính là số lƣợng nguồn nhân lực. Số lƣợng NNL phải đảm bảo đủ theo chiến lƣợc phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Để đạt đƣợc mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác hoạch định NNL trong doanh nghiệp của mình. Nếu doanh nghiệp không hoạch định NNL dẫn đến số lƣợng NNL trong doanh nghiệp quá nhiều so với yêu cầu sẽ dẫn tới lãng phí nguồn lực, đội chi phí lên cao và ngƣợc lại nếu số lƣợng NLĐ quá ít so với nhu cầu sẽ dẫn đến thiếu nhân lực phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến độ sản xuất kinh doanh không đảm bảo, NLĐ phải làm ca, thêm giờ, vi phạm luật lao động, năng suất lao động thấp,.
Số lƣợng lao động đảm bảo nhƣng phải phù hợp về cơ cấu NNL. Cơ cấu NNL thể hiện ở cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính, thâm niên công tác, lao động trực tiếp và lao động gián tiếp,… Cơ cấu NNL hợp lý sẽ tạo điều kiện 13 cho các bộ phận trong doanh nghiệp phối hợp nhịp nhàng và thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện tại hay tƣơng lai. Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ số lƣợng NLĐ với cơ cấu phù hợp là vấn đề cần đƣợc quan tâm đúng mức.