phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ và Quản lý Khách sạn TNH Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ và Quản lý Khách sạn TNH 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo Nicholas Henry – Public Adminnistration and Public affairs, 10th edition 2007 “nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới”. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức.
Theo quan điểm kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Từ góc độ hoạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, ngƣời lao động trong một tổ chức đƣợc coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lƣợng và chất lƣợng của đội ngũ trong quá trình phát triển tổ chức, hay còn gọi là “vốn nhân lực, đƣợc hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của ngƣời lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tƣơng lai so với những lợi ích hiện tại”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân, do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2004) thì “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” [5,tr.
12 Qua tham khảo các khái niệm về NNL nêu trên, tác giả đƣa ra khái niệm NNL theo cách hiểu của mình nhƣ sau: “NNL của một tổ chức bao gồm quy mô số lƣợng và chất lƣợng của tập thể ngƣời lao động cùng làm việc trong một tổ chức, nhằm hoàn thành yêu cầu sản xuất kinh doanh của tổ chức đó”. Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt đƣợc các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức đó đặt ra. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đƣợc hình thành dựa trên các thành viên (nguồn nhân lực). Nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động (theo Bộ Luật Lao động) và ngoài độ tuổi lao động nhƣng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động.
Số lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất ngƣời lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phƣơng. Trong một chừng mực nào đó nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, nhƣng nói về nguồn nhân lực là nói tới chất lƣợng của lao động. Quan điểm trên đây nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhân lực không chỉ trên giác độ số lƣợng (nguồn lực lao động) mà cả về chất lƣơng (tiềm năng phát triển). Theo cách tiếp cận này, cho rằng nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và năng lực con ngƣời liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân và quốc gia.
Các nguồn lực cơ bản của sự phát triển quốc gia thƣờng có là: nguồn lực tài chính, nguồn lực con ngƣời và nguồn lực vật chất; trong đó nguồn nhân lực có vai trò quyết định. Là “lao động sống”, nó làm cho các nguồn lực khác trở nên hữu dụng. Ngày nay, thế giới đang bƣớc vào kỷ nguyên văn minh, trong đó trí tuệ và nền kinh tế trí thức đang là trụ cột của sự phát triển. Các thành quả khoa học trở thành yếu tố sản xuất và 13 trở thành cấu phần của sản phẩm.
Tỷ trọng hàm lƣợng chất xám trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề hay quốc gia đó. Vì vậy, mặt chất lƣợng của nguồn nhân lực, yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên nghiệp, nhân cách phẩm chất là những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nguồn nhân lực của tổ chức hoặc của từng quốc gia. Tuỳ theo giác ngộ nghiên cứu mà ngƣời ta phân chia nguồn nhân lực theo các tiêu thức khác nhau. - Căn cứ vào nguồn gốc hình thành.
Một là, nguồn nhân lực có sẵn trong dân số, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động; Hai là, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là số ngƣời có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân; Ba là, nguồn nhân lực dự trữ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động nhƣng vì những lý do khác nhau chƣa tham gia hoạt động kinh tế song khi cần có thể huy động, nhƣ ngƣời làm công việc nội trợ trong gia đình, ngƣời tốt nghiệp trung học phổ thông và chuyên nghiệp nhƣng chƣa có việc làm, những ngƣời hoàn thành nghĩa vụ quân sự. - Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực. Nguồn lao động chính là bộ phận nguồn nhân lực nằm trong độ tuổi lao động và bộ phận quan trọng nhất; Nguồn lao động phụ là bộ phận dân cƣ nằm ngoài độ tuổi lao động có thể và cần tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các nƣớc kém phát triển; Nguồn lao động bổ sung là bộ phận nguồn nhân lực đƣợc bổ sung từ các nguồn khác (ngƣời hết thời hạn nghĩa vụ quân sự, số ngƣời trong độ tuổi thôi học ra trƣờng, lao động nƣớc ngoài trở về.
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 14 Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Ở góc độ vi mô, phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đào tạo, nhƣng trên thực tế, phát triển nguồn nhân lực có nghĩa rộng hơn. Ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực tổ chức, doanh nghiệp với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trƣờng. Phát triển nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên hai mặt chất và lƣợng: - Phát triển về số lƣợng: là sự gia tăng về số lƣợng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hƣớng phù hợp với môi trƣờng và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực phẩn bổ nhân lực và cơ cấu về giới.
- Phát triển về chất lƣợng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ của các thành viên trong xã hội hoặc tổ chức. Thƣớc đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển con ngƣời, do Liên hợp quốc sử dụng. Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là việc phát triển về số lƣợng và chất lƣợng thông qua thực hiện các chức năng của phát triển nguồn nhân lực, nhằm có đƣợc một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hƣớng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định. Về khái niệm phát triển NNL trong phạm vi tổ chức, tác giả có thu thập một số tài liệu nhƣ: Trong luận án tiến sỹ “Phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nƣớc Đông Á – Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (2002) của tác giả Lê 15 Thị Ái Lâm: “PTNNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất” [9,tr.
Theo “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm Đông Á” của Viện kinh tế thế giới, xuất bản năm 2003 thì: “PTNNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có đƣợc nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có đƣợc nhờ chế độ dinh dƣỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc ý tế” [21, tr. Từ các khái niệm trên, tác giả xin đƣa ra quan điểm của mình về khái niệm phát triển nguồn nhân lực nhƣ sau: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm tất cả các hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng, số lƣợng của ngƣời lao động, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong từng thời kỳ”. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc và tạo ra thay đổi thông qua việc thực hiện các giải pháp đào tạo, phát triển, các sáng kiến và các biện pháp quản lý với mục đích phát triển tổ chức và phát triển cá nhân.
Nội dung của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Phát triển về số lƣợng và chất lƣợng NNL là phát triển NNL phải đảm bảo đủ về số lƣợng nhân lực và đảm bảo chất lƣợng. Đủ về số lƣợng là đáp ứng đầy đủ về số lƣợng lao động theo chiến lƣợc sản xuất kinh doanh của công ty. Để phát triển NNL của doanh nghiệp đạt đƣợc yêu cầu đảm bảo về số lƣợng và cơ cấu NNL đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác hoạch định chiến lƣợc NNL.