Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng đào tạo nhân lực tại Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Phú Thọ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạo nhân lực tại Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Phú Thọ. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Đào tạo Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấy đầu tư cho nguồn nhân lực được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực được hiểu ở cả 3 mặt: chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo. Trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất. Khái niệm giáo dục luôn gắn liền với khái niệm đào tạo. Tuy nhiên, giáo dục chú ý nhiều hơn đến kiến thức, thái độ và quan điểm về một nghề, một lĩnh vực nào đó.
Ngược lại, đào tạo nhấn mạnh đến kỹ năng, thái độ, năng lực để có thể thực hiện công việc. Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất đinh góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật – công nghệ và văn hóa đất nước.
Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không chính quy”. Quan điểm của tác giả Nguyễn Vân Điềm và tác giả Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản trị nhân lực xuất bản năm 2004 cho rằng “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ”.161] 11 Với quan điểm này thì đào tạo cung cấp cho họ các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp người lao động để họ có thể thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ 8 trong công việc của mình. Ngoài những kiến thức họ đã có s n, đào tạo trong tổ chức là bổ sung những gì họ còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh kiến thức kỹ năng để họ đáp ứng được tốt yêu cầu của công việc. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì: “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc” [4, tr.
Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được thiết kế sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ ràng. Thực tế, đào tạo không chỉ là hoạt động học tập bởi người tham gia đào tạo hoàn toàn có thể lĩnh hội kiến thức hoặc trang bị thêm các kỹ năng công việc mới thông qua quá trình quan sát, trao đổi hoặc quan sát đồng nghiệp. Vì vậy, trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm về đào tạo như sau: “Đào tạo là tổng hợp tất cả các hoạt động có kế hoạch, có tổ chức nhằm nâng cao năng lực thực hiện công việc hiện tại của người lao động”. Nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người.
Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực.), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê. Nguồn lực trong mỗi con người có thể nói là không có giới hạn”.180] 12 Nhân lực là nguồn tài sản vô cùng quý giá ở mỗi quốc gia nói chung và các tổ chức doanh nghiệp nói riêng.
Nó là trung tâm cho mọi hoạt động của tổ chức doanh nghiệp, là những người thực hiện thúc đẩy sự phát triển của một đất nước, thể hiện vị thế, địa vị của đất nước đó trên thế giới. Theo Trần Kim Dung (2000), “Nhân lực được hiểu là các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp”.153] Theo Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019, người lao động được hiểu là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động.01] Như vậy, có thể khái quát rằng: “Nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại ở những người lao động trong tổ chức, doanh nghiệp, trong đó bao gồm toàn bộ các năng lực cốt lõi để thực thi có hiệu quả mục tiên và chiến lược kinh doanh đã xác định”.
Đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp là công việc vô cùng quan trọng, là chìa khóa để doanh nghiệp có được đội ngũ nhân lực chất lượng, từ đó đảm bảo phát huy vai trò của yếu tố nguồn lực. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2008), “Đào tạo nhân lực là những hoạt động cung cấp các kiến thức, kỹ năng cho người lao động nhằm hoàn thành tốt công việc được giao ở cả hiện tại và trong tương lai”.162] 13 Theo giáo trình Quản Trị Nhân Lực (tập II của trường Đại học Lao động - Xã hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009: “Đào tạo nhân lực là các hoạt động học tập có tổ chức, diễn ra trong những khoảng thời gian xác định nhằm hướng vào việc giúp cho người lao động nắm rõ hơn chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở công việc hiện tại, bổ sung những kỹ năng, kiến thức còn thiếu để thực hiện công việc một cách tốt hơn trong tương lai”.184] Từ các khái niệm mà tác giả đưa ra, có thể hiểu rằng “Đào tạo nhân lực là quá trình liên quan đến việc hoàn thiện và nâng cao các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và kinh nghiệm nghề nghiệp của người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở cả hiện tại và tương lai, góp phần thực hiện mục tiêu đã xác định của doanh nghiệp”. Có thể thấy đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp sẽ bù đắp được những thiếu hụt về kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm cho người lao động trong quá trình họ làm việc tại doanh nghiệp giúp họ đảm bảo thực hiện công việc và phát triển công việc tốt hơn. Đào tạo nhân lực có bốn dạng cơ bản: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao.
Đào tạo mới: là việc tiến hành đào tạo cho những cá nhân chưa qua đào tạo với mục tiêu chính là giúp cho người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định đáp ứng được yêu cầu công việc của tổ chức. Trong nhiều trường hợp, do không tuyển được lao động có chuyên môn, trình độ phù hợp trên thị trường lao động hoặc do một số nguyên nhân khác tổ chức buộc phải tiến hành đào tạo mới. Đào tạo lại: là việc đào tạo cho người lao động đã qua đào tạo song chuyên môn không phù hợp với công việc đảm nhận. Công tác đào tạo lại được tiến hành khi do một số nguyên nhân nào đó, tổ chức tuyển người vào 14 vị trí không phù hợp với chuyên môn được đào tạo, do sắp xếp tinh giảm bộ máy, do thay đổi dây chuyền công nghệ…mà người lao động trở thành lao động dôi dư và được chuyển sang làm công việc khác.
Khi đó, họ cần phải được đào tạo lại để có thể đảm đương được công việc mới. Đào tạo bổ sung: là việc đào tạo cho người lao động các kiến thức, kỹ năng cần thiết nhằm khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, qua đó giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao. Đào tạo nâng cao: là việc đào tạo nhằm giúp cho người lao động có kiến thức và kỹ năng ở trình độ cao hơn, qua đó giúp cho người lao động hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ dược giao với năng suất và hiệu quả cao hơn. Nội dung đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Quy trình đào tạo nhân lực trải qua 4 giai đoạn cơ bản như sau: Hình 1.
Quy trình đào tạo nhân lực Xác định nhu cầu đào tạo Lập kế hoạch đào tạo Thực hiện kế hoạch đào tạo Đánh giá kết quả đào tạo (Nguồn: Học viên tự tổng hợp) 1. Xác định nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo là sự thiếu hụt khả năng thực hiện công việc của người lao động so với yêu cầu công việc của tổ chức. Việc xác định nhu cầu đào tạo 15 là xác định khi nào? ở bộ phận nào? cần phải đào tạo, đào tạo kĩ năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người. Xác định nhu cầu đào tạo là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đào tạo nhân lực của doanh nghiệp.
Nếu việc xác định nhu cầu đào tạo không chính xác, đầy đủ có thể gây ra nhiều lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, hơn nữa, kết quả đào tạo nhân lực có thể không đạt được mục tiêu đã đề ra, làm giảm chất lượng công tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp.