Chương 1: Cơ sở lí luận về chất lượng dịch vụ tín dụng cá nhân. -_ Chương 2: Phương pháp thiết lập thứ tự ưu tiên cải tiến chất lượng dịch vụ tín dụng cá nhân tại ngân hàng Techcombank Thanh Khê. ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu. ~_ Chương 4: Một số gợi ý cải tiến chất lượng dịch vụ tín dụng cá nhân tại ngân hàng Techcombank Thanh Khê.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. ~ Nghiên cứu “Entegrating current and competitive service-quality level analyses for service-quality improvement programs” của Yong-pil Kim; Seok-hoon Lee; Yun Deok-gyun : thiết lập thứ tự ưu tiên cải tiến chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực dịch vụ thức ăn nhanh tại Hàn quốc, tác giả đã sử dụng thang do Servqual để đo lường chất lượng dịch vụ va đưa ra cách tính tỷ lệ giữa điểm số của chất lượng / điểm số của chất lượng mong đợi của. khách hàng để thiết lập thứ tự cải tiến chất lượng dịch vụ của công ty so với các đối thủ cạnh tranh. - Nghiên cứu “Hợp nhất đo lường và thiết lập chỉ số ưu tiên cải tiến chất lượng dịch vụ: Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực ngân hàng” của Phạm Thị Thanh Thảo và Lê Văn Huy ( 2008) Với những yếu tố đo lường của các nghiên cứu trước và nghiên cứu định tính trong điều kiện Việt Nam, Huy và Thảo (2008) đã đề xuất các yếu tố nhằm đo lường chất lượng dich vu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam với thang do SERVQUAL, phương pháp điểm số chất lượng và thứ tự ưu tiên cải tiến chất lượng đối với từng ngân hàng.
Tác gid sử dụng Thang đo Likert 7 điểm từ (1) là hoàn toàn không đồng ý đến (7) là hoàn toàn đồngý. - Nghién ciru “Influence of service quality on attitudinal loyalty in private retail banking: An Empirical study” cia S Arun Kumar, B Tamil Mani, $ Mahalingam and M Vanjikovan (2010) tác giả đánh giá ảnh hưởng chất lượng dịch vụ đến lòng trung thành của khác hàng trong lĩnh vực ngân hàng bán, và dữ liệu chính được thu thập bằng cách sử dụng một bảng câu hỏi có cấu trúc SERVQUAL của Parasuraman et al. (1985) trong đó bổ sung thêm ba biến so với quy mô ban đầu đó là : lãi suất, phí và hệ thống giải quyết khiếu nại. Tác giả sử dụng Thang đo Likert 5 điểm từ (1) là hoàn toàn không đồng ý đến (5) là hoàn toàn đồngý (1) -_ Luân văn * Đo lường chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cỗ phần ngoại thương lệt Nam chỉ nhánh Da Nang ° của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2011), trong nghiên cứu này tác giả sir dụng phương pháp SERVPERF, thông qua nghiên cứu đã hiệu chỉnh và bổ.
sung thêm 1 nhân tố giá bao gồm: lãi suất, phí dịch vu ,tai cản đảm bảo và một số biến như là : hồ sơ bảo mật, thủ tục vay vốn. Tác giả sử dụng Thang đo. Likert 5 điểm từ (1) là hoàn toàn không đồng ý đến (5) là hoàn toàn đồng ý (1) - Luận văn “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng liên doanh Việt Nga chỉ nhánh Đà Nẵng” của Phan Thị Khuê Tú( 2010) trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp SERVPERF, thông qua nghiên cứu đã hiệu chỉnh và bỗ sung. thêm 1 nhân tố giá bao gôm: lãi suất, phí dich vu ,tai sản đảm bảo và một số.
biến như là : hồ sơ bảo mật, thủ tục vay vón.tác giả sử dụng Thang đo Likert Š điểm từ (1) là hoàn toàn không đồng ý đến (5) là hoàn toàn đồng ý (1) CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CÁ NHÂN 1. TÔNG QUAN VÈ DỊCH VỤ, DỊCH VỤ TÍN DỤNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đôi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để hình dụng về dịch vụ trong.
nghiên cứu này, chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản. “Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho. những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [6]. Định nghĩa vẻ dich vu trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất.
Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ làsự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng [8] Theo Kotler & Armstrong (2004), dich vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu đài với khách hàng [1]. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đôi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.” [2] “Theo ISO 8402, “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc.
giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu khách hàng.” [3] 'óm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biêu dưới những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung thì dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thê tách rời và tính không thể cất giữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được.
~ Tỉnh vô hình Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng va giá cả mà họ thấy. ~ Tính không đồng nhất Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của địch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cắp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Điều này có thể dẫn đến, những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được. ~ Tính không thể tách rời Tính không tách rời của dich vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
- Tinh không lưu giữ được Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ồn định.Khi nhu cầu thay đỗi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. DỊCH VỤ TÍN DỤNG NGAN HANG THUONG MAI 1. Định nghĩa về dịch vụ tín dụng cá nhân Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân là một bộ phận của tín dụng Ngân hàng phân chia theo khách hàng.
Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân chủ yếu để giúp tài trợ cho việc mua ôtô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa hay trang trải cho các khoảng viện phí, đầu tư sản xuất kinh doanh hộ gia đình và các chỉ phí cá nhân khác. Đặc điểm của dịch vụ tín dụng cá nhân Tín dụng đối với khách hàng cá nhân thường là các khoảng vay ngắn hạn, thời hạn vay thường là đưới 1 năm, có thể lên đến 3 năm nếu khách hàng vay đề kiên có lại nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi hay mua nhà, ôtô tùy theo khấu hao của tài sản có định. Tin dung déi với khách hàng cá nhân có độ rủi ro thấp hơn so với tin dụng đối với các hãng kinh doanh: tín dụng đối với khách hàng cá nhân có thời gian vay ngắn hơn so với tín dụng cấp cho các công ty, các hãng kinh doanh.chính vì thế, độ rủi ro cũng ít hơn. Thêm nữa, lượng dư nợ tín dụng cho mỗi một hợp đồng vay cá nhân lại ít hơn rất nhiều, nên rủi ro dàn trải, không tập trung lại, nếu một khoảng vay cá nhân có vấn đẻ thì thiệt hại của Ngân hàng cũng không đáng kể so với một hợp đồng tin dụng lớn đối với các hãng kinh doanh.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân không cao: chính vì mức độ rủi ro không cao, nên lợi nhuận từ hoạt động tin dụng đối với khách hàng cá nhân cũng không cao, nên một số Ngân hàng thương mại thường hạn chế các khoảng vay này, tập trung chủ yếu vào các khoảng vay trung và dài hạn. Tín dụng cấp cho các cá nhân có đối tượng tín dụng là các cá nhân, hộ gia đình có địa bàn sinh sống khá rộng, số lượng lớn khách hàng khiến cho Ngân hàng khó có thể kiểm soát chặt chẽ từng khoảng vay. Chính điều này cũng gây gây khó khăn trong quá trình thu hồi nợ 1. Vai trò của dịch vụ tín dụng cá nhân a.
Déi với nền kinh tế Có thể nói rằng trong tình hình nền kinh tế nước ta hiện nay thì tín dụng Ngân hàng là một nguồn vốn vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Có rất nhiều yếu tố, nhân tố trong nền kinh tế chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại với tín dụng Ngân hàng.