Chương I: Cơ sở lý luận về công bồ thông tin kế toán Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và một số kiến nghị. Tổng quan về đề tài nghiên cứu. CBTT nói chung và CBTT kế toán nói riêng là sự quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, các công ty chứng khoán và các đối tượng liên quan khác. Tuy nhiên, theo bài báo "Soi minh bạch thông tin qua chất lượng báo cáo.
thường niên" (hhtp:/cafef.vn, ngày 14/7/2012), thì số lượng và chất lượng của Báo cáo thường niên chưa đáp ứng được yêu cầu của việc quản lý TTCK hiện đại. Trong đó, Báo cáo thường niên ở Việt Nam có đủ các nội dung theo quy định chỉ chiếm khoảng 20% doanh nghiệp trong tổng số 700 doanh nghiệp niêm yết. Đó chỉ là con số rất nhỏ trong hàng nghìn công ty đại chúng. có nghĩa vụ lập Báo cáo.
Còn đối với các BCTC thì chưa có thống kê cụ thể về mức độ CBTT hoặc các sai phạm của Công ty niêm yết đối với nhà đầu tư. Tuy nhiên, không. hiếm gặp những vụ gian lận BCTC trong nước cũng như ngoài nước. Điển hình là vụ gian lận liên quan đến công ty năng lượng Enron.
Trước khi vụ gian lận được phanh phui giá cô phiếu của Enron đạt đến 60 USD/CP nhưng chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn đã mắt tới 99% giá trị (hiện tại đã phá sản). Nhà đầu tư đã bị chính các lãnh đạo của Enron lừa dối, dẫn đến lỗ nặng nề. Tại TTCK Việt Nam, có thể kể đến điển hình là cổ đông của Dược Viễn Đông (DVD) và Bông Bạch Tuyết (BTT) đã mắt trắng do những gian lận của lãnh đạo hai công ty này và trường hợp CTCP Nhiệt điện Bà Rịa (BTP) trong năm tài khóa 2011 trước kiểm toán đã báo lỗ “khủng” 176 tỷ đồng nhưng sau kiểm toán lại có lãi hơn 62,7 tỷ đồng. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là mức độ CBTT của các công ty niêm yết hiện nay đang ở mức độ nào, phải chăng trên TTCK còn tổn tại hiện tượng lãnh đạo doanh nghiệp che giấu các thông tin bắt lợi, thổi phồng thông tin có lợi hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với nhà đầu tư và yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến CBTT của công ty niêm yết.
Để giải thích cho. vấn đề này, có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước có thể kể như sau: Các nghiên cứu ngoài nước như: Nghiên cứu cụ thể về mức độ CBTT có thể kể đến nghiên cứu của Urquiza, F., (2009) đề cập đến vấn đề thiết kế các chỉ số công bố - có hay không sự khác biệt. Trong đó, tác giả đã hệ thống hóa các chỉ số dùng để đo lường thông tin công bố dựa trên các BCTC của 35 Công ty tại Tây Ban Nha. Các chỉ số được so sánh và phân tích dựa vào phân tích mô tả và phân tích tương quan.
Và cũng các tác giả trên là Urquiza, F., (2010) có nghiên cứu cụ thể về lý thuyết CBTT và các cách đo lường CBTT. Còn lại phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT mà chủ yếu tập trung ở các quốc gia Hoa Kỳ và EU. Bắt đầu ở Mỹ (Louwer, 1996; Gowthorpe va Flynn, 1997), sau đó mở rộng qua các nước Châu Âu như Bite (Marston va Polei, 2004), Anh (Marston va Leow, 1998; Craven Marston, 1999), va Tay Ban Nha (Laurran va Giner, 2002). Những phát hiện của các nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt về CBTT chủ yếu là do các nhân tố bao gồm đặc điểm công ty (tức là lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, loại ngành công nghiệp, kích thước kiểm toán, tính thanh khoản và đòn bẩy), và đặc điểm quản trị công ty (tức là quy mô của Hội đồng quản trị, thành phần hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu).
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở các nước đang phát triển được xem xét trong một vài nghiên cứu như Xiao (2004), Zhang (2007) và Wang (2008) nghiên cứu ở Trung Quốc, Davey và Homkajohn (2004) nghiên cứu ở Thái Lan, Hamid (2005) ở Malaysia. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít các nghiên cứu về trường hợp của Việt Nam, có thê kể đến nghiên cứu là Luận án của TS. Collin Dey, (2010) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến CBTT BCTC trên internet của các công ty Việt Nam. Luận văn đã hệ thống hóa chỉ tiết về CBTT, các quy định về CBTT, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng thông qua các phương pháp thống kê.
Qua đó, tác giả cho rằng nhân tố lợi nhuận và công ty kiểm toán có ảnh hưởng. đến mức độ CBTT trên internet của Công ty niêm yết. Đối với các nghiên cứu trong nước: chủ yếu là các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT, chưa có nghiên cứu hệ thống hóa về mức độ CBTT. Có thể kể đến nghiên cứu của Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010) về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam và nghiên cứu của Lê Thị Trúc Loan (2012) Bàn về mối quan hệ giữa một số nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp và mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Trong đó, qua phân tích mô. hình, Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010) cho rằng nhân tố khả năng sinh lời và nhân tố kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ CBTT, còn Lê Thị Trúc Loan (2012) có kết quả là chỉ có nhân tố khả năng sinh lời là nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2012) cũng đánh giá về mức độ tự nguyện CBTT trong báo cáo hàng năm của công ty phi tài chính tại Việt Nam. Kết luận tổng quan về đề tài nghiên cứu Như vậy, chưa có nhiều nghiên cứu về mức độ CBTT của các doanh nghiệp, đặc biệt là trường hợp ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp.
Đồng thời, các nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT, có thể do xuất phát về đo lường (chọn chỉ mục) hoặc do chọn mẫu. 'Và hiện nay cũng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến mức độ CBTT của một ngành cụ thê ví dụ như ngành xây dựng. Do đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây, kết hợp với cơ sở các lý thuyết về CBTT và các quy định hiện hành của Việt Nam về CBTT Việt Nam sẽ làm cơ sở để hình thành luận văn với đề tài "Nghiên cứu mức độ công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội". CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CONG BO THONG TIN KE TOÁN CUA DOANH NGHIEP NIEM YET 1.
KHAI NIEM, PHAN LOAI CONG BO THONG TIN KE TOAN 1. Khái niệm về công bố thông tin Theo Số tay CBTT dành cho công ty niêm yết của HNX thì "CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm. đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng". CBTT là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK.
Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những. thông tỉn liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết. Nói cách khác, CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tô chức niêm yết các thông tin về tình hình thị trường. Thông thường, thông tin phải đảm bảo tính kịp thời, rõ ràng, dễ hiểu và chính xác.
Việc CBTT phải được tiến hành theo các chế độ thường xuyên, liên tục, định kỳ hoặc đột xuất qua các phương tiện CBTT sao cho đạt hiệu quả nhất. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ nhà đầu tư, song đồng thời cũng có hàm nghĩa rằng một khi thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thì nhà đầu tư cũng phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình. Như vậy, CBTT kế toán là việc công khai thông tin hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp, được cung cấp thông qua các BCTC của các CTNY trong một thời kỳ nhất định và các thông tin khác về các hoạt động có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Để đơn giản, thuận tiện trong việc nghiên cứu, các vấn đề về CBTT dưới đây được hiểu là CBTT kế toán mà chủ yếu là CBTT thuộc BCTC của doanh nghiệp.
Phân loại công bố thông tin a. Phân loại thông tin theo tính chất định kỳ hoặc bắt thường - Thong tin định kỳ: Các loại thông tin kế toán công bố định kỳ thường là: BCTC năm, BCTC bán niên (nếu có). Việc lập BCTC tuân thủ theo quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kế toán doanh nghiệp, Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán v. ~ Thông tin bắt thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa và CBTT bất thường theo yêu cầu gồm các thông tin mà công ty niêm yết phải công bố khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK trong các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện ~ Thông tin bắt buộc Là các thông tin mà công ty niêm yết bắt buộc phải công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia. Những thông tin công bố này phải được trình bày theo những quy định của văn bản pháp luật có liên quan như Luật doanh nghiệp, chuân mực kế toán và chế độ kế toán, quy định về CBTT của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch. ~ Thông tin tự nguyện Là các thông tin mà công ty niêm yết tự nguyện công bố đề nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty mà các thông tin này không bắt buộc phải công bố theo quy định. Việc CBTT tự nguyện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin như các nhà đầu tư, các công ty tư vấn, các nhà phân tích.