Chương 1: Cơ sở lý luận về Dịch vụ và Marketing dịch vụ ~ Chương 2: Thực trạng marketing dịch vụ MyTV tại VNPT Bình Định. - Chương 3: Marketing dich vu MyTV tại VNPT Bình Định giai đoạn 2011-2015. TONG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Các nghiên cứu liên quan đến marketing dịch vụ truyền hình tương tác MyTV của VNPT Bình Định chưa có. Dịch vụ IPTV là lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam cũng như trên Thế giới, cho nên các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật để nâng cao chất lượng nội dung và tín hiệu IPTV.
Liên quan đến góc độ kinh doanh và marketing của dịch vụ IPTV thì đa số các công trình đều nghiên cứu theo từng nội dung riêng biệt như: marketing-mix, hành vi người tiêu dùng, sự thoả mãn về chất lượng dịch vu,.Qua tim hiểu những nghiên cứu trước đây, tác giả đã thống kê một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của mình qua một số đề tài sau đây: 5 - Chu Thi Thanh Ha (2011), Giai phap phat trién dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng viễn thông cho Công ty Phần mềm và Truyền thông VASC, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh và Quản lý, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội. Đề tài đã đưa ra được các giải pháp như: công tác nghiên cứu thị trường, nâng cấp cơ sở hạ tằng kỹ thuật, chính sách cước, kênh phân pl uy nhiên, đề tài chưa đề cập nhiều đến các chính sách marketing trong qua trinh phat trién dich vu.Sc, Marcio Martins Ramos, MA va Luiz Biondi Neto, D.Sc (2008), Critical success factors for the launch of IPTV (Internet Protocol Television) by The Brazilian Telecoms, and the analysis of attributes, benefits and values. Câu hỏi nghiên cứu: “Những nhân tố thành công chủ yếu (CSFs) nào ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ IPTV của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và các giá trị lợi ích nào cung cấp cho khách hàng tiềm năng?”. Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra 7 nhân tố: (1) Nội dung chương trình (Programming content); (2) Tích hợp đa dịch vu (Intergration of several services); (3) Chién luge Marketing (Marketing strategies, with a focus on value perception); (4) Cau tric gid (The Customer price structure); (5) Quang cáo (Informative Advertising); (6) Chi phi dau tr co sé ha tang (Infrastructure costs for the telecommunications network operator); và (7) Sự cạnh tranh với các công ty truyền hình cáp (Competiion with the traditional cable TV companies).
Tuy nhiên, dé tài chưa đề cập đến các nhân tố quan trọng khác như kênh phân phối, con người trong quá trình triển khai dịch vụ tại Brazil. [15] - Geng Yu và cộng sự (2009), Analysis and Characterization of IPTV user 'behavior. Đề tài nghiên cứu hành vi người dùng IPTV bằng việc phân tích và mô phỏng lưu lượng IPTV tại một khu vực của Thụy Điển. Tác giả đã lựa chọn 350 thuê bao IPTV để tiến hành khảo sát trong 3 tuần.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: các thuê bao IPTV sử dụng dịch vụ cao nhất trong khoảng từ 6 7:00pm-11:00pm (chiếm băng thông lớn nhất) và thuê bao đổi kênh liên tục trong khi xem (zapping) trong khoảng từ 7:00pm-l 1:00pm. Hạn chế của đề tài là chỉ nghiên cứu thời gian mà khách hàng sử dụng dịch vụ IPTV chứ chưa nghiên cứu đến việc khách hàng thích nội dung gì, muốn xem chương trình gì từ nhà cung cấp dịch vụ. [14] - Frances Turner (2009), The influence of Mass Customisation on Customer Satisfation and Its implications for the U. IPTV Television Market: An Exploratory Study.
“Đề tài nghiên cứu bằng cách thăm dò sự ảnh hưởng của việc kế theo yêu cầu hàng loạt đến sự thoả mãn khách hàng sử dụng dịch vụ IPTV tại Mỹ như thế nào?”. Nghiên cứu là mới dừng lại ở sự đóng góp vào phan chính của công việc thi: theo yêu cầu hàng loạt liên quan đến khách hàng mà chưa đưa ra được kết luận mối liên hệ giữa thiết kế theo yêu cầu hàng loạt và sự thoả mãn khách hàng. [13] Bên cạnh đó, trên diễn đàn đã có một số bài báo viết về tình hình phát triển dịch vụ IPTV tại một số quốc gia. Tuy nhiên, các bài báo phân tích một cách chung chung, đánh giá khái quát về tình hình phát triển dịch vụ IPTV mà chưa đề cập nhiều đến nội dung marketing dịch vụ IPTV, chúng bao gồm: - “IPTV va IPTV di dong — Xu thế phát triển ở Việt Nam” của hai tác giả Quý Minh và Thanh Dương đăng trên diễn đàn http://ictpress.vn - “Orange France Telecom chia sẻ kinh nghiệm về IPTV” đăng trên diễn dan http://www.vn - “IPTV Deployment Issues, Opportunities, and Challenges in India” cita téc gid Mahendra Nayak đăng trên tạp chí Broadcast & Cablesat thang 6/2008 Ngoài ra, còn có một số đề tài nghiên cứu về chất lượng kỹ thuật của dịch vụ IPTV như sau: - Lê Hoàng Khải (2010), Giải pháp nâng cao chất lượng truyền hình 7 internet tại Viễn thông Đà Nẵng.
Đề tài tập trung đề xuất các vấn đề như: nâng cấp mạng cáp truyền dẫn tín hiệu, đầu tư thêm thiết bị chuyển mach, đầu cuối cũng như là hệ thống IPTV, 3] - Nguyễn Văn Hải, Lê Vinh và các cộng sự, Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật công nghệ phát triển Hệ thống truyền hình trên mạng internet băng rộng và Đề xuất giải pháp kinh doanh dịch vụ IPTV cho VNPT. [24] Đối với Bình Định, có khá nhiều công trình nghiên cứu và báo cáo để tham khảo, điển hình là các báo cáo sau: Quy hoạch tổng thê phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020; Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin tỉnh Binh Định đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; và Quy hoạch tổng thể phát triển bưu chính, viễn thông tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Riêng đối với lĩnh vực VT-CNTT là đảm bảo tốc độ truy cập lớn để đáp ứng yêu cầu băng thông cho các dịch vụ trong đó có dịch vụ truyền hình trả tiền, hiện đại hóa các trung tâm viễn thông, bảo đảm 100% nhu cầu nhân dân được đáp ứng, chú trọng phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng trên cơ sở hạ tầng viễn thông đầu tư,.[16] Tom lại, các tài liệu trên đã phản ánh những nhân tố ảnh hưởng, những tiêu chí đánh giá cũng như những khó khăn và bất cập trong quá trình triển khai và kinh doanh dịch vụ truyền hình IPTV trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Các tài liệu này là cơ sở tham khảo đề đề tài thực hiện bao quát các vấn đề liên quan đến marketing dịch vụ MyTV tại VNPT.
8 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VÀ MARKETING DICH VU 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ a. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ được định nghĩa là: “Bát kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng này là vô hình và không tạo ra bắt kỳ sự sở hữu nào về vật chất cụ thể. Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng các hỗ trợ của sản phẩm vật chất”.
328] Dịch vụ có thể nằm trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi sản phẩm. Người ta phân biệt hai thái cực - một đầu chỉ hàng hoá hiện hữu hoàn toàn và đầu kia chỉ dịch vụ hoàn toàn. Một sản phẩm có thể chứa nhiều hay ít phần dịch vụ hơn tuỳ thuộc vào bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh ra nó. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dẫn bởi vì các công ty ngày càng đưa ra nhiều hỗn hợp sản phẩm, dịch vụ để cạnh tranh.
Và, Hàng Báo hiểm. tuyến —— không Tư vấn Bưu điện. Ôtô — Nhàhàng để hộp ` maysẩn Nhàớ Xeméy Quánăn Hình 1.1: Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ Dịch vụ liên quan nhiều đến con người trong quá trình sản xuất, con người ở đây chính là người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ. Do vậy, dịch vụ thường yêu cầu sự khắt khe trong khâu kiểm soát chất lượng nhiều hơn hàng hoá, người cung ứng dịch vụ phải có tín nhiệm cao hơn và có khả năng thích ứng cao hơn so với hàng hoá.
Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ có bốn đặc điểm quan trọng sau: Tinh vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không giống như những sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy, cảm nhận, nếm, nghe, ngửi được trước khi khách hàng mua và sử dụng nó. Ví dụ: một người đi cắt tóc không thể nhìn thấy kết quả trước khi mua dịch vụ đó. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm những. dấu hiệu hoặc bằng chứng về chất lượng dịch vụ.
Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, uy tín và giá cả mà họ thấy. Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường sản xuất và tiêu dùng một cách đồng thời, khác hắn với hang hoá vật chất - sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều cấp trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu ding cuối cùng. Còn đối với dịch vụ, thì người cung ứng dịch vụ và khách hàng cùng có mặt đồng thời và cùng tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ, cho. nên sự giao tiếp của hai bên tạo ra tính chất khác biệt của Marketing dịch vụ.
Tính đa dạng và không n định về chất lượng: Chất lượng dịch vụ thường không xác định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo sư đầu ngành thực hiện sẽ có chất lượng cao hơn nhiều so với một bác sỹ ngoại khoa mới vào nghề và các cuộc phẫu thuật của riêng giáo sư cũng sẽ khác nhau tùy theo tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần của ông lúc tiến hành ca mỗ. Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thê lưu kho được. Nếu máy bay vắng khách thì đến giờ vẫn phải cất cánh với nửa khoang ghế trống Trong khi nhu cầu về dịch vụ thường dao động rất lớn, có những thời điểm rất đông khách thì người cung ứng dịch vụ phải có nhiều phương tiện hơn gấp bội để đảm bảo phục vụ trong giờ cao điểm.
Ngược lại khi vắng khách, người cung ứng địch vụ phải tốn các chỉ phí co bản như: trả lương cho nhân viên, thuê địa điểm, văn phòng. 10 e Phân loại dịch vụ Có năm loại dịch vụ cần phải phân biệt: - Hàng hoá hoàn toàn hữu hình: Cung ứng bao gồm chủ yếu là hàng hoá hữu hình, không có dịch vụ kèm theo dịch vụ. Ví dụ: kem đánh răng, muối ăn,. ~ Hàng hoá hữu hình kèm theo dịch vụ: Cung ứng bao gồm hàng hoá hữu hình được kèm theo một hoặc một vài dịch vụ.