CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về dòng tiền của doanh nghiệp 1. Khái niệm dòng tiền của doanh nghiệp 1. Tiền Tiền đã ra đời từ chính nhu cầu kinh tế của con người. Khi nền sản xuất, thương mại phát triển, hoạt động thương mại không chỉ gói gọn trong một khu vực nhỏ mà còn mở rộng ra toàn lãnh thổ và những quốc gia khác.
Nhận thấy những nhược điểm của phương tiện thanh toán là vàng hay các kim loại quý trong việc vận chuyển, sử dụng để trao đổi mua bán hàng hóa; vì vậy mà tiền ra đời trở thành phương tiện thanh toán thay cho vàng và các kim loại quý. Được quy ước, ban hành, quản lý bởi nhà nước và được phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ. Doanh nghiệp Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kỷ thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Như vậy, để xem xét một tổ chức có phải là doanh nghiệp hay không, cần phải căn cứ vào mục đích hoạt động của tổ chức đó. Mục đích hoạt động chính của doanh nghiệp là mục đích sinh lời, đây là điểm cốt lõi để phân biệt doanh nghiệp với các loại hình tổ chức kinh tế khác. Tuy nhiên, trong thực tế doanh nghiệp còn có các hình thức khác, một số doanh nghiệp mặc dù hoạt động sản xuất hàng hóa phục vụ cho phúc lợi xã hội, nhưng mục tiêu của những doanh nghiệp này vẫn là tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu. Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bao gồm 3 hoạt động: • Hoạt động kinh doanh: các giao dịch liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không được xác định từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ.
Hoạt động này bao gồm từ khâu sản xuất tới tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. 10 Tiền ảnh hưởng tới tất cả các giao dịch này. Quy trình của hoạt động này được mô tả qua sơ đồ sau: Mua Sản xuất Bán Chi tiền NVL Sản phẩm Doanh thu Thu tiền Hình 1.1: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp • Hoạt động đầu tư: bao gồm các giao dịch liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn. • Hoạt động tài chính: bao gồm các hoạt động liên quan tới hoạt động tài trợ làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp, như tiền vay, hoàn trả nợ gốc.
Dòng tiền phát sinh gắn liền với các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp. Đối với mỗi hoạt động cơ bản, dòng tiền phát sinh có tính chất, đặc điểm khác nhau. Tiền trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Trong hoạt động SXKD, tiền là một thành phần quan trọng trong tài sản lưu động của doanh nghiệp, tồn tại dưới 2 hình thức là: Tiền mặt tại quỹ (Cash on hand) và tiền gửi ngân hàng (Cash in Bank). Tiền = Nợ dài hạn + VCSH + Nợ ngắn hạn - TSLĐ khác tiền– TSCĐ Sự luân chuyển của tiền trong quá trình SXKD Theo như Hình 1.2, một doanh nghiệp bắt đầu hoạt động SXKD bằng tiền do chủ sở hữu đầu tư, kết hợp với một số khoản tiền đi vay, việc thu mua NVL hay dịch vụ đầu vào, cùng với quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ, chuyển tiền thành hàng tồn kho hoặc dịch vụ.
Khi cung cấp hàng hóa (bán hàng hóa cho khách hàng) hoặc cung cấp dịch vụ, hàng hóa dịch vụ được chuyển thành các khoản phải thu. Kết thúc quá trình thu nợ, các khoản phải thu chuyển thành tiền. Nếu quá trình SXKD vận hành một các trơn tru, thì tiền thu về sẽ lớn hơn lượng tiền bơm ra khi bắt đầu hoạt động SXKD (bắt đầu chu kì kinh doanh). 11 Tiền Thu tiền Mua sắm Phải thu Mua NVL đầu vào Bán hàng Lưu kho Sản xuất Nhanh nhất có thể Chậm nhất có thể Hình 1.2: Vòng quay tạo tiền (Rob Reider, Peter B.Heyler, 2003, 15) Ta có thể quan sát và phân tích sự luân chuyển của dòng tiền thành chu kỳ.
Kỳ luân chuyển tiền nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, được tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi tiền của khách hàng. Tuy nhiên, khi sản phẩ m đươ ̣c tiêu thu ̣, doanh nghiệp có thể thu đươ ̣c tiề n hoặc ghi nhận khoản phải thu. Để các khoản phải thu chuyể n thành tiề n có độ trễ về thời gian. Doanh nghiệp muố n thời gian này càng ngắ n càng tố t.
Nghiã là tăng cường thu hồ i khoản phải thu. Khi doanh nghiệp mua các yế u tố đầ u vào, doanh nghiệp làm phát sinh các khoản phải trả và muố n trì hoãn việc chuyể n đổ i khoản phải trả thành tiề n càng lâu càng tố t. Do đó, giữa chu kỳ tiề n và chu kỳ hoa ̣t động không ăn khớp nhau về thời gian bên cạnh đó ta có thể thấy khoảng cách về thời gian giữa thời điểm thu và chi tiền. Khoảng cách này càng lớn thì sẽ kéo dài thời gian doanh nghiệp không còn tiền.
Đây cũng là nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Với nhu cầu về tiền để chi trả thanh toán các chi phí và các khoản nợ đến hạn, thì doanh nghiệp thường có được lượng tiền từ các nguồn sau: • Bán cổ phiếu • Vay tiền: từ rất nhiều nguồn như các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính hoặc yêu cầu khách hàng ứng trước, đặt cọc tiền khi mua hàng, chậm trả các nhà cung ứng. 12 • Chuyển tài sản thành tiền: thanh lý, nhượng bán các trang thiết bị không cần dùng và thu nợ các khoản phải thu. Dưới đây là sơ đồ về sự luân chuyển tiền trong doanh nghiệp: Hình 1.3: Tiền luân chuyển trong doanh nghiệp (Rob Reider, Peter B.Heyler, 2003, 14) Theo hình 1.3, ta có thể thấy tiền như là nhiên liệu để vận hành công ty.
Khi có đủ lượng tiền thì công ty có thể tăng trưởng, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, khách hàng, đối tác kinh doanh, và phát triển sản phẩm mới. Khi lượng tiền không đủ, doanh nghiệp buộc phải tập trung tìm kiếm các nguồn tiền hơn, có thể làm cản trở sự tăng trưởng và phát triển của công ty. Lý do của việc nắm giữ tiền trong doanh nghiệp Doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc sẽ nắm giữ tiền bao nhiêu và như thế nào có thể giải thích qua ba lý do sau: • Động cơ giao dịch: doanh nghiệp cần duy trì một lượng tiền nhất định 13 để chi trả cho các hoạt động SXKD như: mua NVL, trả lương, nộp thuế. Với tính chất luôn quay vòng tuần hoàn liên tục của tiền, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự chênh lệch giữa thời gian, lượng tiền chi ra và thu vào.
Vì vậy, doanh nghiệp không thể không duy trì một lương tiền để lấp đầy sự chênh lệch này. Nhưng không phải chênh lệch lượng tiền thu và chi bao nhiêu thì dự trữ bấy nhiêu, doanh nghiệp cũng luôn cố gắng tiến hành sắp xếp việc thu chi tiền đạt được tính đồng bộ nghĩa là giảm bớt sự chênh lệch về thời gian và lượng tiền thu - chi, để giảm bớt lượng tiền cần thiết để giao dịch. • Động cơ dự phòng: trong hoạt động SXKD, doanh nghiệp không thể lường trước được những sự cố bất ngờ như thiên tai, tai nạn sản xuất.Nên việc duy trị lượng tiền nhất định để ứng phó với những sự việc ngoài ý muốn là vô cùng cần thiết. Nếu không dự phòng tiền, khi phải đối mặt với những sự cố bất ngờ sẽ làm doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng.
• Động cơ đầu cơ: là những khoản tiền được doanh nghiệp tạm không sử dụng để mong có được lợi nhuận bởi sự dao động của giá chứng khoán có giá trị dự định hoặc là dao động giá cả vật tư. Đầu cơ thực tế là đầu tư trong ngắn hạn. Thay vì gửi tiền vào tài khoản ngân hàng hay chỉ để trong quỹ tiền thì việc doanh nghiệp biết nắm bắt các cơ hội đầu tư ngắn hạn sẽ giúp cho lượng tiền của doanh nghiệp tăng lên và kiếm lời từ chênh lệch giá giữa mua vào khi giá rẻ, bán ra khi giá tăng. Chi phí của việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp Tiền tại quỹ không có khả năng sinh lời.
Còn tiền gửi tại ngân hàng với lãi suất thấp nên khả năng sinh lời của tiền gửi ngân hàng thông thường thấp hơn so với khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp đã khiến doanh nghiệp phát sinh các loại chi phí: • Chi phí dự trữ: khi thị trường tiền tệ xuất hiện lạm phát, sự thay đổi của tỷ giá, với lượng tiền hay loại tiền doanh nghiệp đang nắm giữ đang bị giảm giá 14 trị hoặc thay đổi giá trị. Khiến cho các kế hoạch chi trả, sử dụng tiền tại thời điểm nắm giữ sẽ bị ảnh hưởng. Sự chênh lệch của giá trị tiền khi lạm phát và thay đổi tỉ giá chính là chi phí dự trữ tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra.
• Chi phí giao dịch: Khi doanh nghiệp cần lượng tiền nhất định để chi trả, doanh nghiệp phải đi vay hoặc bán chứng khoản thanh khoản, chi phí cho giao dịch này sẽ phát sinh. Ngược lại, doanh nghiệp thặng dư tiền tạm thời, họ sẽ thực hiện đầu tư ngắn hạn như cho vay ngắn hạn hoặc đầu tư chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch sẽ phát sinh. Chi phí giao dịch bao gồm chi phí thiệt hại do bán tài sản với giá thấp, chi phí dịch vụ và chi phí thanh toán cho các nhà môi giới. • Chi phí cơ hội: là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể có được nếu đem tiền đi đầu tư thay vì giữ lại trong quỹ hay tài khoản ngân hàng.
Chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền có thể được xác định chính bằng khoản lợi tức thông qua lãi suất của chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Khái niệm dòng tiền của doanh nghiệp Khi đề cập tới dòng tiền của doanh nghiệp, không có khái niệm dòng tiền nói chung, cần hiểu khái niệm về dòng tiền thông qua dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòng tiền ròng. Dòng tiền ròng được xác định bằng tổng số tiền vào trong kỳ trừ đi số tiền bỏ ra trong kỳ tương ứng. Dòng tiền khác với chỉ tiêu lợi nhuận thực hiện trong kỳ được tính theo phương pháp dồn tích.