Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUẢN TRỊ CÔNG TY 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu của Trần Thi Thanh Tú (2015) trong cuốn sách “Quản tri công ty trong ngân hàng thông lệ quốc tế và thực tién Việt Nam” đã chỉ ra rằng, có nhiều nghiên cứu nước ngoài về vài trò của quản trị công ty đối với hoạt động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghiên cứu tập trung đánh giá mối quan hệ giữa quản trị và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu này, quản tri công ty thường được đánh giá theo các khía cạnh: vai trò của HĐQT, chính sách đãi ngộ.
các yếu tố về văn hóa, tâm lý chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu. Các nghiên cứu này cho kết quả không rõ ràng về mối quan hệ giữa quản trị công ty và kết quả kinh doanh của công ty. Nghiên cứu của Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) về “Quản trị công ty vấn đề đại diện của các công ty đại chúng tại Việt Nam” cho thấy quản trị công ty là một chủ đề nóng đối với Chính phủ, các công ty đại chúng và các nhà nghiên cứu ở cả nước ngoài và Việt Nam. Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) cho rằng nền tảng của quản trị công ty là lý thuyết đại điện.
Lý thuyết này làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng vấn đề đại diện, cụ thể là cấu trúc HĐQT của các công ty đại chúng niêm yết trên hai san HNX va HOSE của Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp gợi ý cho Chính phủ và các doanh nghiệp. Về ý nghĩa của việc quản trị công ty, nghiên cứu của Nguyễn Trường Sơn (2010) về “Van dé quản trị công ty trong các doanh nghiệp Việt Nam” cho thay quản tri công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa HĐQT, ban giám đốc, các cô đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đây hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường dau tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Nguyễn Trường Sơn (2010) cho rằng thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam mặc dù có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất lượng doanh nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là năng lực quản tri, đặc biệt là quản tri công ty còn hết sức hạn chế. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn Nguyễn Trường Sơn (2010) đi sâu phân tích thực trạng quản trị công ty trong các doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh: khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức và cơ chế quan lý của doanh nghiệp, tính minh bạch trong hoạt động, van dé bảo vệ quyền của cổ đông và người lao động. từ đó đưa ra những nhận định tổng quát và các đề xuất nhằm tăng cường năng lực quản trị công ty ở Việt Nam. Cũng về ý nghĩa của quản trị công ty trong ngân hàng, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2010) trong cuốn sách “Các nguyên tắc tăng cường quản trị công ty đối với các tổ chức ngân hàng” đã chỉ ra rằng, thị trường và công chúng phản ứng rất nhạy cảm đối với bất kỳ khó khăn tiềm tàng nào phát sinh từ các yếu kém trong hệ thống quản trị công ty của ngân hàng.
Vì thế quản trị công ty có liên quan mật thiết không chỉ với từng tổ chức ngân hàng mà cả hệ thống tài chính quốc tế và công tác hướng dẫn, giám sát nghiệp vụ ngân hàng. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2010) đã cung cấp các hướng dẫn cho các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng đây mạnh việc áp dụng thực tiễn quản trị công ty vững mạnh trong tô chức ngân hàng tại các quốc gia thành viên của Ủy ban này. Ở khía cạnh kinh nghiệm quản trị công ty, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Anh (2010) về “Kinh nghiệm quản trị công ty của Australia và bài học đối với doanh nghiệp Việt Nam” cho răng, hệ thống quản trị công ty Australia được đánh giá là một trong những hệ thống tiên tiến hàng đầu thế giới với nhiều ưu điểm như hệ thong quy định luật pháp chặt chẽ, vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT được chú trọng, tính đa dạng của HĐQT được đề cao, việc công bố thông tin hiệu quả. Nguyễn Thúy Anh (2010) cho rằng những lợi thế này xuất phát từ một mô hình quản trị công ty phù hợp, với sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và quản lý cũng như kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán khá lâu đời của nước này.
Trong khi đó, quản trị công ty ở Việt Nam hiện tại không còn mới nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt liên quan đến hiệu quả hoạt động của HĐQT và công bố thông tin. Do vậy, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Anh (2010) đưa ra những kinh nghiệm từ sự phát triển quản trị công ty của Australia nhăm góp phần xây dựng hệ thống quản trị công ty hiệu quả tại Việt Nam. Về tiêu chuẩn đánh giá quản trị công ty, nghiên cứu của Hoàng Van Hải và Tran Thị Hồng Liên (2012) về “Chất lượng quản trị công ty theo bộ tiêu chuẩn Gov-Score: Nghiên cứu điển hình các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội” đã xác định đánh giá chất lượng quản trị công ty của doanh nghiệp luôn là một mong muốn của các thành viên HĐQT và các đối tượng hữu quan khác, bởi đó là cơ sở tin cậy cho những phương án cải tiến chất lượng tiếp theo. Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên (2012) đã giới thiệu kết quả đánh giá mới nhất về chất lượng quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội theo bộ tiêu chuẩn Gov-Score.
Kết quả đánh giá được đưa ra sau một khảo sát cho thay chất lượng quản trị công ty của các doanh nghiệp này đang ở mức trung bình, đáp ứng ở mức tối thiểu yêu cầu của các quy định quản trị công ty hiện hành, tuy nhiên đã xuất hiện một số sự thực thi tiến bộ nhỏ ở vài doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng quản trị công ty, Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên (2012) đề xuất hai nhóm giải pháp cơ bản, gồm: thứ nhất, lấy cải cách khung khổ làm đòn bay nâng cao chất lượng quản trị công ty và thứ hai, tăng cường bồi dưỡng kiến thức về quản trị công ty cho tất cả các nhóm liên quan. Bên cạnh đó, IFC (2012) trong cuốn sách “Báo cáo Thẻ điểm Quản trị Công ty 2012” đã cung cấp một cơ sở mang tính chuẩn mực và hệ thống cho phép cơ quan quản lý và các nhà đầu tư có thể đánh giá hiện trạng quản trị công ty của doanh nghiệp cũng như có cái nhìn tổng thé về tình hình quản trị công ty tại Việt Nam; cho phép một công ty tự đánh giá chat lượng quản trị công ty của bản thân và thúc day các công ty cải thiện thực tiễn quản trị công ty của mình; Xây dựng một hệ thống phân tích quản trị công ty theo ngành nghề và hy vọng hệ thống này có thé hỗ trợ việc cải thiện các thông lệ quản trị công ty tại Việt Nam; Hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc xác định điểm mạnh và điểm yếu của luật lệ và thực tiễn quan tri công ty, từ đó đề ra các cải cách phù hợp; Đánh giá tiến triển của công tác quản trị công ty qua các năm; và Hỗ trợ nâng cao nhận thức và hiểu biết về các thông lệ quản trị công ty tốt. Tiếp đến, nghiên cứu của Trần Thi Thanh Tú và Phạm Bao Khánh (2013) về “Quản tri công ty trong ngân hàng Nghiên cứu điển hình tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần và Ngân hàng Thương mại Nhà nước” đã thé hiện quản trị công ty trong ngân hang là một trong những mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và đặc biệt là các ngân hàng, song ở Việt Nam, các nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế.
Một nội dung rất quan trọng trong các tiêu chuẩn đánh giá năng lực quản trị công ty do OECD đề xuất là các tiêu chuẩn về vai trò của HĐQT. Ngoài ra, các nguyên tắc về quản trị rủi ro của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng cũng đề cập đến trách nhiệm của HĐQT trong ngân hàng. Qua đó, Trần Thị Thanh Tú và Phạm Bảo Khánh (2013) đã đánh giá trách nhiệm HĐQT của Ngân hàng thương mại cô phan và Ngân hàng thương mai nhà nước dựa trên các tiêu chuẩn về quan tri công ty của OECD và các nguyên tắc Basel. Về vấn đề quản trị công ty trong DNNN, OECD (2010) trong cuốn sách “Hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong Doanh nghiệp Nhà nước” đã đưa ra các khuyến nghị cụ thể về cách thức giải quyết các van đề phức tap của van dé quản trị công ty tại DNNN.
OECD (2010) đề xuất nhà nước phải thực hiện chức năng sở hữu thông qua một cơ quan sở hữu tập trung hóa, hoặc thông qua các cơ quan điều phối hiệu quả. Các cơ quan này phải hoạt động độc lập và tuân thủ chính sách sở hữu đã được công bố công khai. OECD (2010) cũng đề nghị tách bạch quyền sở hữu nhà nước với các chức năng quản lý. Nếu được thực hiện đúng đắn, những khuyến nghị này và các đề xuất cải cách khác sẽ là một bước tiến lớn trong việc đảm bảo quyền sở hữu nhà nước được thực hiện một cách chuyên nghiệp và có trách nhiệm, và nhà nước sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc nâng cao quản trị công ty trong mọi khu vực của nền kinh tế.
Kết quả là các doanh nghiệp sẽ vững mạnh hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn và minh bạch hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hoàng Anh Duy và Lê Việt Anh (2013) về “Thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ phân hóa tại Việt Nam” đã đánh giá thực trạng công tác quản trị DNNN sau cô phần hóa tại Việt Nam thông qua những tìm hiểu và khảo sát trên các hoạt động quản trị doanh nghiệp cơ bản bao gồm: quản trị chiến lược, quản trị tài chính và quản tri nhân sự.