CHƯƠNG 1 MOT SO LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN TRI NOI DUNG THONG TIN DAI DICH COVID-19 TREN TRUYEN HINH 1.1 Quản trị Từ xưa đến nay, tat cả các tổ chức nói chung, dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào: kinh tế, chính trị, văn hóa.đều tổn tại các hoạt động quan tri. Quản tri có nhiều cách hiểu khác nhau. Có một số quan niệm tiêu biểu như sau: Theo Joseph S. Nye Jr và John D thi: Quản tri có nghĩa là các quy trình và các thiết chế, chính thức và phi chính thức mà chúng hướng dẫn và kiểm soát hành vi tập thể của các nhóm và chính quyền là một thành phần mà hoạt động của nó gắn với quyền hành và tạo ra nghĩa vụ chính thức [45, tr.
Từ định nghĩa này có thé hiểu việc quản trị chính là ban hành các quy trình, thiết chế nhằm hướng dẫn và kiểm soát các cá nhân trong tô chức, tập thể thực hiện hành động và nó được kiểm soát băng quyền hành của người quản lý. Theo giáo trình “Quản trị học” của tác giả Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, NXB Giao thông Vận tải ấn hành năm 2006 đã chỉ ra: Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động cua môi trường và nó là một tiễn trình năng động [9, tr. Qua định nghĩa này có thể thấy rằng tồn tại một hệ quản trị bao gồm hai phân hệ: chủ thé quản trị và đối tượng quản trị. Chủ thé quan trị là tác nhân tạo ra các tác động quan trị nhằm dẫn dắt đối tượng quan tri di dén muc tiéu nhat dinh.
Viéc quan tri cũng đòi hỏi những thích nghi dé phù hợp với những biến động của môi trường va sự thay đôi trong tiễn trình thực hiện công việc. Từ các khái niệm trên kết hợp với nghiên cứu, khảo sát thực tiễn có thể khái quát: Quan trị là một quy trình gồm các hành động lên kế hoạch, tô chức sắp xếp công việc, nhân sự, kiểm soát các tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quan tri nham dat được những mục tiêu chung của tô chức. 19 Với khái niệm trên, có thê rút ra các đặc điểm của quản trị thường gồm: Thứ nhất, đề quản trị được phải tồn tại một hệ quản trị gồm 2 phân hệ: chủ thé quản trị và đối tượng quản trị. Chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra các tác động quản trị nhằm dẫn dắt đối tượng quản tri di đến mục tiêu.
Chủ thé có thé là một người, một bộ máy quản trị gồm nhiều người, một thiết bị. Đối tượng quản trị tiếp nhận các tác động của chủ thé quản trị. Đây có thé là những yếu tổ thuộc giới vô sinh, giới sinh vật hoặc con người. Thứ hai, phải có một hoặc một tập hợp mục đích thong nhất cho cả chủ thé và đối tượng quản trị.
Đạt mục đích theo cách tốt nhất trong hoàn cảnh môi trường luôn biến động và nguồn lực hạn chế là lý do tồn tại của quản trị. Đó cũng chính là căn cứ quan trọng nhất dé chủ thé tiễn hành các tác động quản trị. Thứ ba, quản trị bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều. Quản trị là một quá trình thông tin.
Chủ thé quản trị phải liên tục thu thập dữ liệu về môi trường va về hệ thông, tiễn hành chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, bảo quản thông tin, truyền tin và ra quyết định - một dạng thông tin đặc biệt nhằm tác động lên các đối tượng quản trị. Còn đối tượng quan trị phải tiếp nhận các tác động quản trị của chủ thé cùng các đảm bảo vật chất khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Thứ tư, quản trị bao giờ cũng có khả năng thích nghi. Đứng trước những thay đôi của đối tượng quản trị cũng như môi trường cả về quy mô và mức độ phức tạp, chủ thể quản trị không chịu bó tay mà vẫn có thê tiếp tục quản trị có hiệu quả thông qua việc điêu chỉnh, đôi mới cơ câu, phương pháp, công cụ và hoạt động của mình.2 Nội dung thông tin Để hiểu rõ khái niệm “nội dung thông tin”, trước hết cần làm rõ 2 khái niệm “thông tin” và “nội dung”: Theo “Tir điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học do tác giả Hoàng Phê biên soạn năm 2018 thì: Thông tin là truyền tin cho nhau dé biết [31, tr.
Khái niệm này giải thích theo 2 hướng nghĩa: (1) là một hành động cụ thé dé tao ra một hình thái; (2) là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa 20 này cùng ton tại, một nhăm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt. Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu khi tiếp xúc với công chúng. Trong lĩnh vực báo chí, thông tin còn được hiểu là một danh từ dùng dé nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng, dẫn chứng cụ thé từ bai viết.
Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Dinh Văn Hường, Trần Quang, được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội an hành năm 2004 đưa ra khái niệm: Thông tin là phan tri thức được sử dung dé định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản ly xã hội, thực hiện mục dich giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thống [42, tr. Khái niệm này chính là tập trung vào tác động của thông tin đối với đời sống xã hội. Như vậy, từ các khái niệm khác nhau về thông tin nêu trên, kết hợp với thực tiễn có thé khái quát: Thông tin là những thông báo, dir liệu chứa những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm. được chia sẻ giữa các đối tượng giao tiếp nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ tiến tới điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực với các hoạt động thực tiễn.
Về khái niệm “nội dung”, theo Tir dién tiéng Việt định nghĩa “Nói dung là mặt bên trong của sự vật cải được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [31, tr. Nội dung, theo định nghĩa này, bao gồm thông tin, thông điệp và trải nghiệm mà đối tượng hoặc phương tiện truyền thông tạo ra và hướng đến người dùng. Trong cuốn "Tac phẩm báo chí" của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nội dung của một tac phâm báo chí bao gồm nhiều yếu tố làm nên nó, bao gồm dé tài, chủ đề và chi tiết. Những thành phan này góp phần cung cấp thông tin cho công chúng.
Do đó, nội dung thông tin có thể được hiểu là thông tin và thông điệp liên quan đến một sự kiện hoặc sự việc được truyền đạt đến công chúng thông qua báo chí, bao gồm chủ dé, chủ đề và chi tiết của nó. Nội dung thông tin về mặt bản chat chỉ bao gồm nội dung - nghĩa là nội dung bao gồm chủ đề, các khía cạnh của sự kiện, vấn đề hoặc chi tiết của sự việc, nhưng không bao gồm hình thức. Tuy nhiên, trong thực tế, nội dung và hình thức thống nhất với nhau vì nội dung là các mặt, yếu tố và quá trình tạo 21 nên sự vật, và hình thức là một hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tô của nội dung. Do đó, nghiên cứu không thé chia thành các phan riêng biệt; thay vào đó, nội dung và hình thức luôn gắn bó với nhau trong một tổng thể.
Không có hình thức nào tồn tại mà không có nội dung; ngược lại, không có hình thức nào không có nội dung. Nội dung nào mang tính chất đó. Vì vậy, chúng tôi xin phép hiểu khái niệm nội dung theo một nghĩa rộng hơn, đó là nội dung tác phẩm. Đối với tác phẩm hay chương trình truyền hình, nội dung thông tin là một kết cấu hoàn chỉnh cung cấp thông tin/théng điệp được truyền tải theo một cách nhất định thông qua các phương tiện như lời nói, văn bản hoặc một phương thức diễn đạt khác.
Có thé khang định, nội dung chỉ có giá trị khi nó được chuyền tải qua một hình thức phù hợp, thông qua một loại phương tiện và đến được với người cần nó.3 Đại dịch Covid-19 Dịch bệnh được hiểu là sự xuất hiện va lây lan nhanh chóng trong cộng đồng hoặc khu vực mà các trường hợp mắc bệnh có thé truyền nhiễm với số lượng lớn vượt quá mức bình thường [46, tr. Xét về phương thức lây lan, dịch bệnh được chia làm bệnh truyền nhiễm lây truyền qua các vật trung gian truyền bệnh và lây truyền qua nguồn nước. Xét về mức độ lây lan, quy mô bùng phát và phạm vi ảnh hưởng thì các dịch bệnh được chia làm ba cấp độ. Đó là dịch bệnh bùng phát ở địa phương; dịch bệnh ở quy mô cộng đồng, khu vực và đại dịch ở quy mô toàn cầu.
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO thì “Đại dịch là sự lây lan trên toàn thé giới cua một căn bệnh mới ”. Như vậy, có thể khái quát, đại dịch là một dịch bệnh có mức (diện tích, tốc độ) lây lan ở mức lớn nhất ở quy mô toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì đại dich COVID-19 là một dịch bệnh về bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus SARS-CoV-2 và các biến thể gây nên một cuộc khủng hoảng sức khỏe nghiêm trọng cho người dân toàn cầu. Theo Churchill, khủng hoảng sức khỏe là một “sự kiện ngoài kế hoạch gây ra một mối đe dọa thực sự, được nhận thức hoặc có thể xảy ra đối với phúc lợi của công chúng (hoặc một số bộ phận), môi trường hoặc cơ quan y té bị ảnh hưởng” [43, tr.
22 Từ những khái niệm trên, tác gia rút ra khái niệm sau: “Đại dich Covid-19 là dich bệnh do virus SARS-CoV-2 và các biến thể gây ra, lây lan nhanh chóng trong cộng đồng trên phạm vi toàn cầu với số lượng người mắc bệnh lớn đã tác động tạo nên một cuộc khủng hoảng sức khỏe lam quá tải hệ thong y tế và dé lại những ảnh hưởng nghiêm trọng đôi với sinh mạng con người và nên kinh tê”.4 Đài Truyền hình Đài truyền hình là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống báo chí của một quốc gia. Đó là nơi thực hiện sản xuất những tin tức thời sự, chương trình truyền hình để phát sóng lên hệ thống nhằm phục vụ đông đảo công chúng. Có nhiều hệ thống phát và thu hình như truyền hình phát sóng, truyền hình vệ tỉnh, truyền hình cáp, truyền hình internet.