chương 1 về quán ngữ tiếng Việt và kết quả miêu tả, phân tích, phân loại các phương tiện tương đương trong tiếng Ý đã thực hiện ở chương 2, chương 3 của luận văn. TONG QUAN LÍ THUYET 1. Khai niệm quan ngữ 1. Quan diém của các nhà Việt ngữ học về quán ngữ trong tiéng Việt 1.
Quán ngữ tiếng Việt Quán ngữ, theo phân loại của các nhà từ vựng học, là một kiểu don vị ngôn ngữ năm trong hệ thống ngữ cố định của tiếng Việt. Phân tích theo lối chiết tự thì “quán” có nghĩa là quen, dùng nhiều lần, lặp đi lặp lại; “ngữ” được dùng dé gọi tên một đơn vi ngôn ngữ ở cấp độ tương đương với từ, được cầu tạo từ sự kết hợp của một số từ với nhau và có sự độc lập về nghĩa. Theo đó, ghép nghĩa của hai tiếng “quán” và “ngữ” lại, chúng ta có thé hiểu quán ngữ là những tổ hợp từ được dùng lặp đi lặp lại, thành thói quen của một cộng đồng ngôn ngữ. Như vậy, ngay từ tên gọi của quán ngữ chúng ta cũng có thé “đọc” được hai thông tin cũng là hai đặc trưng quan trọng của đối tượng này: tính quen dùng và tính độc lập về nghĩa.
Tuy nhiên, đi vào cụ thể, các nhà nghiên cứu cũng có những cách hiểu ít nhiều khác nhau về kiểu đơn vị ngôn ngữ nay. Dé tiện cho việc theo dõi quá trình nghiên cứu về quán ngữ cũng như để hình dung một cách có hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt trong quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt ngữ, chúng tôi sẽ trình bày theo trình tự thời gian quan điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biéu đã có những tuyên bố về quán ngữ. Trước tiên phải đề cập đến quan điểm về quán ngữ của Nguyễn Văn Tu (1968). Trong cuốn sách được cho là công trình nghiên cứu đầu tiên về từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Văn Tu sử dụng thuật ngữ “từ tổ” với cách hiểu là sự kết hợp của các từ khác nhau dựa trên mối quan hệ về nghĩa và ngữ pháp và lấy đó làm xuất phát điểm dé mô tả hệ thống từ tổ tiếng Việt, bao gồm từ tô có định và từ tổ tự do.
Trong phân loại của tác giả thì quán ngữ thuộc vào nhóm từ tổ có định và là những “từ t6 rất gần với từ tô tự do nhưng tương đối 6n định về kết cấu, được quen dùng mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính chất độc lập, có khi một từ trong đó có thé thay thé bằng một từ khác. Nghia của từ tổ được thé hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ, thành tố của chúng. Sở di có thé quy những từ tổ này vào từ tổ cố 12 định vì so với các loại từ tổ tự do, quan hệ giữa các từ tương đối cố định. Theo truyền thống, những từ trong những từ tô này gắn với nhau và được quen dùng” [32, tr.
Tiếp đó là các công trình nghiên cứu từ vựng học của Nguyễn Thiện Giáp. Trong các công bố hữu quan, tác giả cũng dành một phần để trình bày quan điểm của mình về quán ngữ. Ông cho rằng quán ngữ “là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản dé liên kết, đưa đây, rao đón hoặc nhắn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó” [9, tr. Quan điểm về quán ngữ của tác giả vẫn tiếp tục được bảo lưu và bố sung trong Van dé “từ” trong tiếng Việt hiện đại (2011) và Từ vựng học tiếng Việt (2016).
Cụ thé, trong hai cuốn sách này, Nguyễn Thiện Giáp đã một lần nữa khang định răng quán ngữ là một đơn vị “chiếm vi trí trung gian giữa cụm từ cố định và cụm từ tự do” [10, tr. Ngoài chức năng liên kết văn bản, đưa đây, rào đón, nhấn mạnh, ông có bồ sung chức năng biéu đạt ý nghĩa tinh thái cho kiểu đơn vị ngôn ngữ này. Nghiên cứu về quán ngữ còn có sự đóng góp của các tác giả Mai Ngoc Chir, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2014) với cách định nghĩa như sau: “quán ngữ là những cụm từ được lặp di lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là đưa day, rào đón, để nhân mạnh hoặc dé liên kết trong diễn từ” [3, tr.
Những phát biéu như trên về khái niệm quán ngữ cho thấy, nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều chia sẻ quan điểm tương đối nhất quán về quán ngữ. Sự thống nhất trong cách nhìn nhận về kiểu đơn vị này được thé hiện ở quan điểm về tính lặp đi lặp lại trong giao tiếp, về hình thức giao thoa giữa cụm từ cố định và cụm từ tự do và về chức năng đưa đầy, rao đón hoặc nhấn mạnh của quán ngữ tiếng Việt. Trong các nghiên cứu về quán ngữ tiếng Việt, Đoàn Thị Thu Hà (2000) cũng tán đồng với cách hiểu về quán ngữ của các nhà Việt ngữ học nói trên, song tác giả này đặc biệt nhắn mạnh tính đặc ngữ và tính tình thái của kiểu đơn vị ngôn ngữ này. Theo đó, tác giả quan niệm “Quán ngữ là những kết cấu ngôn ngữ ít nhiều mang tính đặc ngữ, có câu trúc ôn định hoặc tương đôi ôn định, được người nói sử dụng 13 chủ yếu như một công cụ có chức năng của những tác tử tình thái (TT) tác động vào nội dung mệnh đề (P) theo một kiểu nào đó.
Trong bài viết gần đây nhất, tác giả tái khang định quan điểm về quán ngữ tiếng Việt về số lượng thành tố cau thành: gồm từ hai tiếng trở lên; về nội dung ngữ nghĩa mang tính đặc ngữ; về phạm vi xuất hiện phố biến trong diễn ngôn nói và viết. 48] Ngoài các tác giả trên thì Mai Thị Kiều Phượng (2011) chia sẻ một góc nhìn khác về quán ngữ. Cụ thể, tác giả này cho rằng “quán ngữ hay còn gọi là ngữ cố định miêu tả tương đương với ngữ định danh tuy được xếp là cụm từ có định nhưng lại có những đặc trưng rất gần với cụm từ tự do, có ý nghĩa bằng tổng số nghĩa của từng thành tố câu thành và kết hợp nên” [29, tr. Theo quan điểm này thì quán ngữ là một kiểu cụm từ có định được hình thành từ sự kết hợp của các đơn vị thành viên mà nghĩa đơn lẻ của chúng góp phan tạo nên nghĩa tổng thé của toàn bộ tổ hợp.
Như vậy, nếu một quán ngữ được cấu tạo từ hai đơn vị khác nhau A và B có ý nghĩa lần lượt là a và b thì nghĩa của quán ngữ AB khi ấy sẽ là a + b. Chúng tôi nhận thay nhận định này là chưa bao quát cho tất cả các quán ngữ tiếng Việt, nhất là những trường hợp quán ngữ được xem xét trong khuôn khổ của luận văn này. Ví dụ, “hình như”, “có khi”, v. không thể được xem xét về ý nghĩa dựa trên sự kết hợp đơn thuần giữa nghĩa của đơn vị cấu thành “hình” + “như” hay “co” + “khi”.
Với nội dung ý nghĩa của quán ngữ được rút ra theo cách hiểu của nhà nghiên cứu này thì khả năng nhận diện “có khi” là một cụm từ tự do là có thé xay ra, trong khi 6 nhiéu tình huống giao tiếp cho thay điều ngược lại. Tóm lại, về khái niệm quán ngữ tiếng Việt có những cách hiểu và định nghĩa không hoàn toàn trùng khớp, nhưng tựu trung lại, có thể thấy nổi lên trong các phát biểu của những nhà ngôn ngữ học trên đây một sự thống nhất về đặc trưng nhận diện cơ bản của đơn vị này. Đó là (i) tính lặp đi lặp lại trong giao tiếp khâu ngữ, (ii) tính độc lập về nghĩa và (iii) tính 6n định tương đối về cấu trúc. Đặc trưng của quán ngữ tiếng Việt Tuy là một trong những đơn vị thuộc lĩnh vực nghiên cứu của từ vựng học song quán ngữ tiếng Việt không nhận được nhiều sự quan tâm như các đơn vị đồng 14 nhóm khác, chăng hạn như thành ngữ.
Nghiên cứu về quán ngữ chủ yếu được thể hiện thông qua cách các nhà từ vựng học bày tỏ quan điểm về loại đơn vị này, còn miêu tả sâu hơn về đặc trưng hay phân loại dựa trên một bộ tiêu chí nhất định thì chưa có nhiều tác giả thực hiện. Về nội dung này đặc biệt chúng tôi ghi nhận có công trình của Mai Thị Kiều Phượng (2011), trong đó, tác giả, ngoài việc trình bày khái niệm quán ngữ, đã nêu một cách cụ thể mục đích sử dụng (hay còn được hiểu là chức năng), đặc điểm và phân loại của quán ngữ theo phạm vi sử dụng và theo chủ đề sử dụng trong hiện thực khách quan. Theo Mai Thị Kiều Phượng, quán ngữ tiếng Việt mang hai đặc trưng chủ đạo xét theo kết cấu và xét theo ý nghĩa của chúng. Chúng tôi nhất trí với quan điểm của nhà nghiên cứu này song nhận thấy cần bổ sung thêm và khái quát lại thành ba đặc trưng như sau: - Tính quen dùng trong giao tiếp hàng ngày; - Tinh cô định tương đối của cấu trúc tổ hợp; - Tinh cộng nghĩa và hòa kết về nghĩa.
Về tính quen dùng trong giao tiếp hàng ngày thì quán ngữ tiếng Việt tự nó đã chứng tỏ đặc trưng này thông qua vô vàn tình huống giao tiếp. Tính quen dùng hay có thể nói là tính lặp đi lặp lại trong việc sử dụng quán ngữ cũng chính là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của một quán ngữ bởi lẽ, chúng ta chỉ có thể có một quán ngữ nếu đơn vị đó được bắt gặp với tần suất cao trong giao tiếp đến mức thành thói quen của người sử dụng ngôn ngữ. Về đặc trưng này, chúng ta đều thừa nhận các quán ngữ như “nói tóm lại”, “có lẽ”, “của đáng tội”, “nói khí vô phép”, v. là những đơn vị từ vựng được sử dụng rất nhiều trong nội dung giao tiếp của người Việt đến mức dé tìm được một đơn vị khác tương đương thay thé cho nó là việc không hề dé dàng nếu không phải sử dụng một biến thé phái sinh từ nó.
Chang hạn, thay vì “nói khí vô phép” người nói có thé lựa chọn “nói khí không phải” hoặc dưới hình thức rút gọn hơn “khí vô phép”, “khí không phải”. Tính cé định tương đối của cau trúc tổ hợp quán ngữ tiếng Việt có thể được hiểu là mối liên kết giữa các thành tố tham gia cấu thành tô hợp thông qua khả năng thêm bớt, chêm xen, thay thế một hoặc nhiều thành tố. Mối liên kết này có các mức 15 độ lỏng - chặt khác nhau giữa các tiểu nhóm quán ngữ khác nhau.