Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TẬP THỂ SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhóm, tập thể là một trong những nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học nhân văn khác nhau, đặc biệt là nhà nghiên cứu Triết học, Tâm lý học, Giáo dục học trên thế giới. Con người tồn tại và hoạt động gắn bó với một nhóm xã hội Trong quá trình hoạt động, con người nảy sinh nhu cầu phối hợp, kết hợp các hành động để cùng hướng đến mục đích chung vì vậy nhóm xã hội được hình thành.
Nhóm xã hội là một khái niệm rộng và là khái niệm cơ bản, nó kéo theo một loạt các khái niệm liên quan như: tổ chức, tổ chức xã hội, tập thể… Khi đề cập đến tập thể, C.Angghen đã khẳng định: “Chỉ trong tập thể, con người mới có được những phương tiện cho phép phát triển toàn diện tư chất của mình. Và khi đó, chỉ trong tập thể có tự do cá nhân” [30]. Tác phẩm “Tâm lý học tập thể và phân tích cái tôi” của Sigmund Freud (1856-1939, Áo) đã tìm hiểu mối quan hệ trong nhóm, nghiên cứu đặc điểm tâm lý của nhóm. Tác giả Frederich Winslow Taylor (1856-1915, Mỹ) về thuyết quản lý theo khoa học, ông muốn có sự cải cách trong quản lý, tổ chức quản lý nhà máy từ không chuyên nghiệp sang chuyên nghiệp.
Không chỉ chú ý đến tổ chức công việc hiệu quả mà Taylor còn quan tâm đến mối quan hệ đầy phức tạp và linh hoạt giữa con người và con người trong tổ chức. Elton Mayo (1880-1949, Úc) là một nhà nghiên cứu vấn đề tâm lý học trong quản lý. Từ những nghiên cứu thực nghiệm, Hawthorn và Mayo đã đưa ra các quan hệ không chính thức có vai trò rất lớn trong quan hệ của nhóm chính thức. Mayo là một trong những người đầu tiên nghiên cứu nhóm không 6 chính thức.
Ông đã chỉ ra vị trí và vai trò của cơ cấu không chính thức trong nhóm chính thức. Điều đó cảnh tỉnh các nhà quản lý phải quan tâm đến vấn đề này trong quá trình tổ chức hoạt động của nhóm. Nhóm, tập thể được đi sâu nghiên cứu khi tâm lý học quản lý trở thành một ngành khoa học. Các nhà tâm lý học quản lý nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các vấn đề của nhóm, tổ chức, tập thể, đó là những vấn đề như: Cấu trúc tổ chức, các giai đoạn phát triển của tổ chức, văn hóa tổ chức, bầu không khí tổ chức, môi trường tổ chức, xung đột và quản lý xung đột trong tổ chức, dư luận trong tổ chức,… Nhà giáo dục nổi tiếng A.
Makarenco đã viết: “Một nền giáo dục đúng đắn được tổ chức bằng phương thức là tạo được tập thể thống nhất mạnh mẽ, có nhiều ảnh hưởng,. Theo ông, tập thể là một cơ thể xã hội sinh động thể hiện sức mạnh tổng hợp của các thành viên của nó. Sức mạnh của các thành viên khi đã liên kết lại một cách có mục đích, có tổ chức thì sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả tập thể mạnh hơn rất nhiều lần so với tổng sổ sức mạnh của các thành viên, và ông đã đề cao vai trò trung tâm của hiệu trường trong TTSP. Ở Việt Nam, nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học cũng đã tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề về nhóm, tập thể.
Tác giả Vũ Dũng bàn đến tập thể bằng việc đi sâu nghiên cứu các vấn đề cấu trúc nhóm, lãnh đạo nhóm….Tác giả Nguyễn Đức Minh tập trung nghiên cứu các điều kiện phát triển của một tập thể và quá trình xây dựng tập thể. Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đề cập đến vai trò phát triển cá nhân của tập thể: “Trong tập thể, mỗi cá nhân sẽ tìm được những phương tiện và điều kiện để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình”; “Sự phát triển của tập thể và sự phát triển của cá nhân là hai quá trình quy định lẫn nhau” [21]. Vấn đề TTSP cũng được nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên 7 cứu và thực hiện. Trong đó có nhiều công trình nghiên cứu công phu, có giá trị thực tiễn lớn, như các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã đề cập khá sâu sắc về giáo dục nhân cách trong tập thể:“Tập thể chân chính tuyệt nhiên không chèn ép, không xoá bỏ cá nhân mà phát triển cá nhân.
Trong tập thể mỗi cá nhân sẽ tìm được những phương tiện và điều kiện để phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách của mình. Sự phát triển của tập thể và sự phát triển của cá nhân là hai quá trình quy định lẫn nhau” [20]. Trong các luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, một số tác giả cũng có nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến TTSP ở một số địa phương như: Trần Tiến Dũng (2011) “Biện pháp xây dựng tập thể sư phạm tại trường của Hiệu trưởng các trường trung học Phổ thông tỉnh Quảng Bình”; Lê Thị Hoàng Diễm (2011) “Biện pháp xây dựng tập thể sư phạm tích cực của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre”; Lê Thị Diệu Hương (2013) “Biện pháp xây dựng tập thể sư phạm tích cực tại Trung tâm Đào tạo từ xa – Đại học Huế; Huỳnh Xuân Mai (2019) “Quản lý công tác xây dựng tập thể sư phạm tích cực ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” đã nói lên được tầm quan trọng của công tác xây dựng TTSP trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại các cơ sở GD&ĐT. Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp để QL một TTSP.
Tất cả những công trình nghiên cứu trên đã làm phong phú kho tàng lý luận của khoa học QL và có giá trị rất lớn trong việc giúp các nhà QL giáo dục hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ quản lý của mình. Tuy nhiên, các luận văn tập trung giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể ở một số địa bàn nhất định. Riêng vấn đề “Quản lý công tác xây dựng tập thể sư phạm ở các trường tiểu học thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” chưa được tác giả nào nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý “Quản lý” là gì? Có nhiều cách hiểu khác nhau, đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn đến. Theo Harold Koontz : "Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất nhưng thoả mãn nhiều nhất” [28]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung Tâm Từ Điển Ngôn Ngữ Hà Nội xuất bản năm 1992, quản lý có nghĩa là: + Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; + Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Tác giả Trần Kiểm thì cho rằng: Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của một tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Tuy có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau, song nhìn tổng thể, có thể thống nhất: Quản lý là những tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục Quản lý và quản lý giáo dục tồn tại song hành với nhau. Khái niệm quản lý giáo dục được hình thành trên sơ sở khái niệm quản lý và được hiểu theo cấp độ vĩ mô và vi mô. Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lý một nền giáo dục hay hệ thống giáo dục; còn quản lý giáo dục cấp vi mô là quản lý trường học hay tổ chức giáo dục cơ sở. - Ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu câu của xã hội”.
- Ở cấp độ vi mô: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp, qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng trong xã hội và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. Tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [12].Konzacov cho rằng: “Quản lý giảo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách của thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những 10 qui luật chung của xã hôi cũng như những qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [27].