Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, TỔNG QUAN TRUNG TÂM VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH HUYỆN PHÙ NINH 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Do đặc thù, tính chất công việc nên quản lý cũng có nhiều lý giải khác nhau. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả đã đưa ra giải về quản lý. Theo Hán Việt từ điển hiện đại cho rằng: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [1, tr.W Taylor (1856-1915): là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [37, tr.
Theo Henry Fayol (1886-1925), ông là người đầu tiên nghiên cứu, tiếp cận quản lý theo quy trình, cũng là người có tầm nhìn, sự ảnh hưởng lớn từ thời cận hiện đại cho đến nay ông đã nghiên cứu và định nghĩa về quản lý: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [37, tr. 21] 9 Qua các khái niệm về quản lý trên chúng ta có thể hiểu quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý và đây chính là nội dung khái niệm về Quản lý mà tác giả vận dụng vào trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về quản lý hoạt động văn hóa của Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện Phù Ninh. Văn hóa Khái niệm văn hóa hiện nay đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, đến nay đã có khoảng 500 định nghĩa về văn hóa do các nhà nghiên cứu, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới đưa ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới lúc sinh thời Bác đã đưa ra khái niêm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, tr. Định nghĩa trên, Bác đã xác định văn hóa bao gồm những thành quả của sự sáng tạo về cả phương diện vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự 10 tồn tại và phát triển của loài người và văn hóa không chỉ là sự sáng tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sáng tạo đó.
GS Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [47, tr. Năm 2002, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [58, tr. Như vậy, có thể hiểu văn hóa trong cách nhìn hệ thống văn hóa là phản ảnh “điểm nhìn” của một cộng đồng dân tộc về thế giới vật chất, nhận thức điều kiện tự nhiên, môi trường sống xung quanh và những quy tắc ứng xử của cộng đồng tương ứng với nó. Trong một không gian sinh tồn, các dân tộc, các cộng đồng người phải vượt qua sự cản trở của các thế lực tự nhiên và cả xã hội để tồn tại và phát triển, có cả những thích ứng, thích nghi, biến đổi để hòa nhập.
Chính quá trình thích nghi này tạo nên những nét đặc thù, điểm khác biệt, hình thành bản sắc của cộng đồng, tổ chức xã hội ở phạm vi hẹp hay ở phạm vi quốc gia dân tộc. Khái niệm này tác giả vận dụng trong nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn các hoạt động văn hóa do đơn vị tổ chức, đồng thời lấy đó là cơ sở căn cứ để cho nhân dân sáng tạo và hưởng thụ văn hóa theo đúng nghĩa văn hóa là của dân nhân, phục vụ nhân dân và theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Quản lý văn hóa Để hiểu quản lý hoạt động văn hóa trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái quát về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về văn hóa. Quản lý nhà nước là sự quản lý mang tính chất nhà nước, được thực hiện bởi bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước, để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quản lý nhà nước về văn hóa là quá trình tác động có tổ chức đến các hoạt động văn hóa. Quản lý nhà nước về văn hóa đòi hỏi phải giới hạn văn hóa ở một phạm vi hẹp và trong những hoạt động cụ thể. Quản lý nhà nước về văn hóa ở các quốc gia trên thế giới hầu như khác nhau, các mô hình quản lý phụ thuộc vào điều kiện lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội của từng nước.
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự lãnh đạo, điều hành, kiểm soát của các cơ quan văn hóa đối với các lĩnh vực được quy định, trong đó có hoạt động quản lý tại Trung tâm văn hóa cấp huyện, xã. 12 Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung chính sau đây: Xác lập quan hệ quan điểm chủ đạo là hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức. Những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa trong các văn bản chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ.
Bộ máy tổ chức, cán bộ theo các lĩnh vực. Cơ chế phối hợp liên ngành, bộ, ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội cơ cấu dân sự. Hệ thống pháp luật gồm luật, pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn, quy chế, quy tắc, quy định. Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực lối sống, nếp sống, văn học – nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc và theo địa bàn lãnh thổ Trung ương – địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng – miền núi, trong nước – ngoài nước.
Và cần phải chú trọng đến các chính sách đầu tư phát triển nguồn lực đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực và phương tiện cho văn hóa. Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lí vi phạm cũng cần được quan tâm. Vì vậy, quản lý văn hóa là một hệ thống xuyên suốt, có sự lãnh đạo của một cá nhân được sự tín nhiệm của nhân dân đề ra với mục tiêu mong muốn và đảm bảo văn hóa là nền tảng, là động lực tinh thần của xã hội. Quản lý hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa thực chất là những hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và sử dụng các giá trị văn hóa nhằm mục đích văn hóa hóa con người để làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội.
Đại hội Đảng IX cũng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [4]. Trong cuốn Quản lý hoạt động văn hóa của tập thể tác giả, tác giả Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường đưa ra khái niệm quản lý văn hoá như sau: “Quản 13 lý văn hoá là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hoá phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [52, tr.