CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Xuất phát từ mô hình bảo đảm chất lượng giáo dục ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như: Hoa Kỳ, các nước Bắc Mỹ, các nước Châu Âu, các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, khi mới bắt đầu KĐCLGD vẫn còn là lĩnh vực chưa được đánh giá và quan tâm đúng mức. Trong hệ thống các mô hình quản lý chất lượng giáo dục, KĐCLGD thực chất là bước phát triển của một mô hình đánh giá chất lượng giáo dục.
Do vậy, KĐCLGD thường được xem là quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ra quyết định để công nhận tính chuẩn mực của một cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, quá trình đánh giá ngoài chính là kết quả TĐG của một cơ sở giáo dục. TĐG là một khâu quan trọng trong công tác KĐCLGD các cơ sở giáo dục. Đây chính là quá trình các cơ sở giáo dục tự xem xét, đối chiếu với các tiêu chuẩn đánh giá do BGD&ĐT tạo ban hành để báo cáo về thực trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất,.
từ đó tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Hiện nay, KĐCLGD được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị chỉ rõ: "Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo"[5, tr. Cũng tại Đại hội này, Đảng ta đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2020, trong đó chỉ rõ: "Thực hiện kiểm định 7 chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học" "[30, tr.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo chỉ rõ: "Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định"[23, tr. Các văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT về công tác KĐCLGD: Quyết định số 4138/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 09 năm 2010 về việc phê duyệt đề án xây dựng và phát triển hệ thống KĐCLGD đối với Giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 – 2020 với hai giai đoạn: giai đoạn một ( từ năm 2011 đến năm 2015) với trọng tâm “ Khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hành lang pháp lí cho công tác KĐCLGD, thành lập Hội đồng quốc gia KĐCLGD và thành lập tổ chức KĐCL GD của Nhà nước để triển khai kiểm định các cơ sở giáo dục” và giai đoạn hai (từ năm 2016 đến năm 2020) với trọng tâm “ Củng cố hệ thống các tổ chức KĐCLGD do tổ chức, cá nhân thành lập, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về KĐCLGD và triển khai kiểm định các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp” [25, tr.5]; Thông tư số 67/2011/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2011 ban hành Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá trường Tiểu học; Thông tư số 42/2012/TT - BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng BGD&ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; Công văn 8987/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 28 tháng 12 năm 2012 của BGD&ĐT hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; Từ những cơ sở trên, chứng tỏ rằng vấn đề chất lượng, đảm bảo chất lượng, KĐCLGD trong thời gian gần đây được các cấp, các ngành và xã hội quan tâm. Chính vì vậy, trong thời gian gần đây có rất nhiều tác giả, các nhà 8 khoa học quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM của tác giả Trần Khánh Đức (2004); Quản lý chất lượng giáo dục của tác giả Nguyễn Quang Giao (2001); Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học ở trường đại học của tác giả Nguyễn Quang Giao (2011); KĐCLGD đại học của tác giả Nguyễn Đức Chính (2002); Chất lượng giáo dục: Những vấn đề lý lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Hữu Châu (2008).
Bên cạnh đó, có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về KĐCLGD như: Trần Quốc Hùng (2009) với đề tài: Biện pháp quản lý công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng đào tạo đại học của trường đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng; Đoàn Việt Hùng (2011) với đề tài “ Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá của trường Cao đẳng Đức Trí – Đà Nẵng”; Lê Thanh Giang (2012) với đề tài “ Biện pháp Quản lý đảm bảo chất lượng tại trường THPT Quốc Lâm, tỉnh Nam Định theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT”. Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích những khái niệm công cụ: QL, QLGD, chất lượng giáo dục,.xây dựng khung lý thuyết về KĐCL GD. Khảo sát đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục ở một số cơ sở GD. Từ đó, đề xuất các giải pháp, biện pháp quản lý công tác TĐG trong KĐCLGD.
Trong công trình này, chúng tôi tiếp thu và kế thừa các thành tựu trên, đồng thời tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ thêm các vấn đề mà các tác giả đi trước đặt ra nhưng chưa được giải quyết đầy đủ. Trong những năm gần đây, ngành GD nước ta đang không ngừng đổi mới toàn diện đáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thành phố Quy Nhơn đang vươn mình phát triển trở thành một trong những thành phố, trung tâm văn hóa – chính trị trọng điểm của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên. Vì vậy, việc 9 quản lý công tác TĐG trong KĐCL GD đáp ứng yêu cầu mới của các ngành học, bậc học, theo định hướng mới là một trong những nhiệm vụ cơ bản và có tính cấp thiết. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Khái niệm “Quản lý” được hình thành từ rất lâu cùng với sự phát triển của nhân loại. Mọi hoạt động của xã hội đều cần QL. QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Hoạt động QL là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, có tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.
Trên cơ sở những quan điểm khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm QL: Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) có ghi: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [16, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [12, tr. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26, tr.
Như vậy, khái niệm QL có thể hiểu là quá trình tác động có định hướng, 10 có tổ chức của chủ thể lên khách thể thông qua các cơ chế QL, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi trường luôn có biến động để cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển tích cực đạt được những mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục GD là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, GD phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống nhất.
Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong GD, đó là hoạt động QLGD. QLGD được xem như là một hoạt động chuyên biệt để QL các cơ sở GD. Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD: Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [23, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [20, tr.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo 11 dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em" [26, tr. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên): “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [22, tr.