Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Hiện nay, ở bất cứ các Quốc gia nào khi nói đến KĐCL giáo dục thì không còn là một thuật ngữ xa lạ với hầu hết các nước kinh tế phát triển. Chính vì vậy, KĐCL giáo dục đã và đang trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các nền GD hiện đại.
Các nghiên cứu hoạt động quản lý KĐCL giáo dục phần lớn xuất phát từ KĐCL giáo dục Đại học tại một số nước trên thế giới. Kiểm định chất lượng có thể được tiến hành ở phạm vi trường ĐH hoặc chương trình đào tạo (ngành đào tạo): 6 Hiệp hội trường ĐH, cao đẳng vùng cùng 5 Hiệp hội cấp quốc gia tiến hành KĐCL trường ĐH và 43 Hội KĐCL chuyên ngành thực hiện KĐCL chuyên ngành đào tạo. Ví dụ các hiệp hội: Hiệp hội trường Đại học và Cao đẳng miền Trung Hoa Kỳ (Middle States Association of Schools and Colleges); Hiệp hội các trường đại học quản trị kinh doanh Hoa Kỳ (American Assembly of Collegiate School of Business); Hiệp hội kiểm định chuyên ngành đào tạo giáo viên quốc gia (National Council for Accreditation of Teacher Education); Hiệp hội chuyên ngành đào tạo Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association). Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện.
Bởi vì, sinh viên học ở các trường chưa kiểm định sẽ gặp khó khăn trong việc học sau đại học tại các trường đã kiểm định hoặc khó được thị trường lao động chấp nhận. Tuy nhiên, có một số chuyên ngành đào tạo cần phải kiểm định như y khoa, luật. Kiểm định chất lượng là không bắt buộc nhưng phần lớn các trường e 8 ĐH đều tự nguyện đăng ký với các tổ chức hoặc hiệp hội để được kiểm định nhằm nhận được sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, và cũng muốn bằng cấp của mình được xã hội thừa nhận. Đây là tiêu chuẩn đánh giá mềm dẻo nên các hiệp hội đã sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá được xây dựng có tính mềm dẻo và được thay đổi phù hợp với sứ mạng của từng trường.
Quy trình kiểm định luôn gắn với đánh giá đồng cấp (peer review). Các chuyên gia đánh giá đồng cấp được lựa chọn từ các trường, ngành học hoặc có chuyên môn tương tự như chương trình được đánh giá. Quay lại thời điểm những năm 2000, việc hướng tới một chuẩn chất lượng đã được ngành giáo dục đặt ra như một vấn đề trọng tâm cần giải quyết. Chuẩn quốc gia được coi như mốc cơ bản đối với những trường muốn khẳng định chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên, xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng khiến các trường ĐH bắt buộc phải tìm cho mình những thước đo mới tầm cỡ quốc tế. Năm 1995 Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á mới ra đời và đến năm 2000 các thành viên ban đầu của AUN (ASEAN University Network – Quality Assurance) cùng nhau xây dựng các tiêu chuẩn nhằm đẩy mạnh xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng để sử dụng như một công cụ duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu trong các trường ĐH thành viên AUN; xây dựng những chuẩn mực chất lượng chung cho các trường ĐH thành viên AUN; thúc đẩy công nhận chuẩn chất lượng giữa các trường ĐH thành viên AUN. Kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế là sự công nhận, đánh giá của một tổ chức độc lập về hoạt động của một trường Đại học, từ đó giúp các trường cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục. Hoa kỳ là nước đầu tiên trong việc tiến hành KĐCL giáo dục Đại học.
Còn ở Hà Lan, có hai hình thức đào tạo bậc ĐH là các trường Đại học Giáo dục Chuyên nghiệp (UPE - The University of Professional Education) và các trường Đại học Nghiên cứu (VSNU - Association of Universities in the e 9 Netherlands).Hệ thống giáo dục đại học chuyên nghiệp: chương trình của các trường đại học (gọi là hogescholen) hướng vào ngành nghề cụ thể. Sinh viên thực hành kinh nghiệm làm việc theo thông qua việc thực tập trong quá tŕnh đào tạo. Tất cả các trường ĐH và GD chuyên nghiệp liên kết thành Hiệp hội giáo dục đại học chuyên nghiệp. Từ năm 1990, Hiệp hội thực hiện dự án "Đánh giá chất lượng" cho tất cả các trường ĐH thành viên và đưa ra mô hình mới cho "kiểm định công nhận chất lượng" gồm các tiêu chuẩn đánh giá như: Mục đích và mục tiêu đào tạo; Thiết kế chương trình; Chất lượng đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; Kết quả đầu ra của sinh viên.
Mục đích của việc đánh giá chất lượng là nhằm có được cái nhìn tổng thể về chất lượng giáo dục và giúp cải tiến chất lượng, nâng cao sự hiểu biết của xã hội về các chương trình và bằng cấp của hệ thống Giáo dục ĐH Chuyên nghiệp. Việc đánh giá do Hội đồng giáo dục đại học chuyên nghiệp (HBO) thuộc hệ thống giáo dục đại học chuyên nghiệp tiến hành và đánh giá chất lượng cho từng chuyên ngành hoặc nhóm ngành đào tạo. Hệ thống đánh giá chất lượng Hà Lan đã triển khai hoạt động rất tốt và được các bên liên quan chấp nhận. Hệ thống đã có những tác động tích cực đối với các trường ĐH Hà Lan trong việc tăng cường ý thức về chất lượng, giúp phát triển cơ chế đảm bảo chất lượng bên trong và báo cáo cho công chúng về chất lượng các trường ĐH.
Hà Lan có 14 trường ĐH nghiên cứu, chủ yếu đào tạo sinh viên trong lĩnh vực khoa học và ứng dụng khoa học. Các trường ĐH tại Hà Lan được giao quyền tự chủ nhưng đồng thời được yêu cầu nâng cao tính chịu trách nhiệm và đảm bảo chất lượng. Tới nay, hầu hết các nước đều tiến hành tổ chức KĐCL và đưa ra bộ tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá chất lượng giáo dục các trường và đưa ra chương trình đào tạo và tùy thuộc vào đặc trưng của các cơ sở kiểm định các nước trên thế giới. Dù còn nhiều bất cập nhưng các nước đang dần dần hoàn thiện e 10 lại tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục để khẳng định với xã hội về chất lượng và hiệu quả của cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo.
Các nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây ở Việt Nam sự phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ nên chất lượng giáo dục cũng đã và đang phát triển theo, được các cấp, các ngành và xã hội quan tâm. Trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa, trong thời gian qua ở nước ta các nhà khoa học, các nhà QLGD, các nhà nghiên cứu giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Ngoài ra, còn có các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đề cập đến vấn đề chất lượng, ĐBCL, KĐCL giáo dục ở trường ĐH, cao đẳng theo những cách tiếp cận khác nhau và đã có những đóng góp nhất định đối với công tác quản lý chất lượng, ĐBCL, KĐCL giáo dục. Một số đề tài như “Đánh giá chất lượng giáo dục: nội dung- phương pháp- kỹ thuật” [23] của Trần Thị Bích Liễu đã trình bày các nguyên tắc, phương pháp và kỹ thuật đánh giá; các nội dung đánh giá trong giáo dục.
Trần Khánh Ðức thông qua “Quản lý và KĐCL đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” [17] đã đề cập các phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo; KĐCL đào tạo ĐH; kiểm định các điều kiện ĐBCL các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đề tài “Kiểm định chất lượng trong giáo dục Đại học” [11] do Nguyễn Đức Chính làm chủ nhiệm đề tài đã cung cấp cơ sở lí luận khoa học về kiểm định, ĐBCL và các mô hình quản lý chất lượng giáo dục ĐH. Đặc biệt, đề tài đã xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện ĐBCL đào tạo dùng cho các trường ĐH Việt Nam và hướng dẫn tiến hành quy trình KĐCL. Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những kinh nghiệm hay trong lĩnh vực KĐCL giáo dục Đại học của nhiều nước tiên tiến trên thế giới và các nước đang phát triển trong khu vực.
Đây là đề tài đầu tiên của Việt Nam cung cấp thông tin về một quy e 11 trình KĐCL hoàn chỉnh [11, tr. Trong bối cảnh hội nhập trước các yêu cầu đổi mới giáo dục, vấn đề KĐCL giáo dục trở nên cấp thiết. Trước yêu cầu đó, Nguyễn Quang Giao đã “Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học ở trường đại học” [18], trong đó nêu lên các quan niệm về chất lượng giáo dục, KĐCL; phân tích các thành tố tạo nên chất lượng; các mô hình đảm bảo và quản lý chất lượng; mục đích, mục tiêu, đặc trưng vai trò ý nghĩa của KĐCL và hướng dẫn quy trình KĐCL giáo dục. Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, đã có nhiều luận văn tốt nghiệp; luận án nghiên cứu về chất lượng dạy học; chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng dạy học ở các cấp học như: “ Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của trường Đại học Quy Nhơn” của Nguyễn Thị Kiều Thu (2013); đã đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động nhằm đánh giá tổng thể các mặt hoạt động của nhà trường góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay.
Trong thời gian gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD đề cập đến như tác giả Nguyễn Trọng Ngoạn (2019) với đề tài: “Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học Huyện Chư PăH, tỉnh Gia Lai” đã đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác tự đánh giá nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung tại các trường tiểu học, hay tác giả Dương Thị Kim Liên (2018) với đề tài:”Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non Huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” đã đề xuất các biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng của báo cáo tự đánh giá theo quy định và thực hiện hoạt động tự đánh giá theo đúng tiến độ của các trường mầm non huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.