Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái lược các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Theo tác giả Thái Duy Tuyên viết trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” (1998), thì trong dạy học, các phạm trù nội dung, phương pháp, phương tiện luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Mỗi nội dung dạy học đòi hỏi phải có phương pháp và PTDH tương ứng [26]. Ngược lại, cải tiến và sáng tạo những phương tiện lao động làm nảy sinh nội dung và phương pháp mới có chất lượng cao hơn.
Đề cập đến vai trò của PTDH, trong cuốn sách “Phương tiện dạy học” (1998), tác giả Tô Xuân Giáp cho rằng “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều” [10]. Một trong những nội dung được thể hiện trong cuốn sách “Sư phạm nghề nghiệp” (2002), của tác giả Trần Khánh Đức đã chỉ rõ: “Lao động sư phạm của người giáo viên cần có những công cụ, thiết bị phù hợp với tính chất, nội dung, môi trường lao động ở từng cấp học, loại hình trường và ngành nghề đào tạo. Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động lao động sư phạm của người giảng viên mà còn có thể thay thế cho các sự vật, hiện tượng và một số quá trình xảy ra trong đời sống, lao động nghề nghiệp mà PTDH tạo điều kiện để phát huy hết các chức năng tư duy của não con người” [9]. Nghiên cứu PTDH gắn với môn học cụ thể, trong cuốn sách viết về “Phương tiện dạy học môn Toán” (2004), tác giả Nguyễn Bá Kim đã chỉ ra các PTDH thông dụng có thể được sắp xếp theo ba nhóm sau đây: Phương tiện nghe nhìn; tài liệu in ấn; công nghệ thông tin và truyền thông.
7 Theo tác giả, là môn khoa học tự nhiên, trong dạy học môn Toán sử dụng PTDH rất cần thiết, làm tăng tính trực quan cho người học, nhất là với những nội dung hình học không gian, hình học khối,… đòi hỏi tính trừu tượng cao [19]. Cùng hướng nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng PTDH theo yêu cầu đổi mới giáo dục, cũng có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu như tác giả Trần Quốc Đắc với đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học ở trường phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục, đào tạo trong tình hình mới”; tác giả Đào Thái Lai [21] với đề tài cấp Bộ trọng điểm “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2006); đề tài cấp Bộ về “Yêu cầu sư phạm của phần mềm công cụ hỗ trợ giáo viên thiết kế bài giảng điện tử” của tác giả Đặng Thu Thủy, tác giả Phan Thanh Hải [15] với nghiên cứu “Sử dụng phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học tương tác”, “Phương tiện dạy học với việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông” của tác giả Vũ Trọng Rỹ [23], … Ngoài ra, còn có các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về biện pháp lý PTDH ở các trường THPT trên các địa phương khác nhau như: “Các biện pháp quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện nay” (Đặng Công Hầu – năm 2008) [13] “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học ở các trường trung học phổ thông tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Văn Tuấn – năm 2012) [28] “Quản lý phương tiên dạy học ở các trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ngãi” (Hoàng Hải – năm 2016) [16] 8 Các luận văn trên đã chỉ ra được thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý PTDH phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương. Tuy nhiên, vận dụng kết quả nghiên cứu trên để quản lý PTDH ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Phú Yên chưa phù hợp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, kinh tế nước ta nói chung và Phú Yên nói riêng phát triển nhanh, ngành giáo dục được Đảng và Nhà nước chăm lo, đầu tư thì việc quản lý PTDH trong nhà trường còn nhiều vấn đề mới đặt ra. Do đó, luận văn này trình bày hướng nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý PTDH ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Phú Yên trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thái quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển xã hội.
Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau. Theo tác giả Thái Văn Thành: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [24]. Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [14].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc : “Quản lý là 9 hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức ” [6, tr. Nhìn chung, các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau: - Bản chất của quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động. - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và sự phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người. Có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm điều khiển và hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục tiêu phù hợp với quy luật khách quan và ý chí của người quản lý. Khái niệm về QLGD Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [1].
Tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của 10 Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” [11]. Như vậy, QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung. Khái niệm về quản lý nhà trường Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [11]. Trên cơ sở các quan niệm về QLGD, ta nhận thấy: - Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho Nhà trường thực hiện có chất lượng về mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường phát triển, góp phần 11 thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập và tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.