đặt vấn đề nghiên cứu quá trình quản lý hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-6 tuổi tại các trƣờng mầm non trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Từ đó, đề ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục trẻ của nhà trƣờng đáp ứng nhu cầu đổi mới của ngành học, sự tin yêu của nhân dân. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1.
Quản lý Quản lý là hiện tƣợng, chức năng, một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời nhất của con ngƣời. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời và một nhân tố của sự phát triển xã hội. Theo Koozt, O’Donnell và Weilhrich (1994) định nghĩa “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [19]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. Trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ [2].
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý”, thì quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà e 12 ngƣời quản lý mong muốn [26]. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Quản lý giáo dục Theo Kondakov, “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trƣờng) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng nhƣ các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em” [25, tr.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất” [28, tr. Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [22]. Có thể hiểu khái niệm quản lý giáo dục là quản lý những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục nhƣ các trƣờng học, trung tâm khoa học kỹ thuật, hƣớng nghiệp dạy nghề hay một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cƣ. Đa số các nguồn và tác giả tuy e 13 diễn đạt khác nhau song căn bản đều hiểu khái niệm quản lý giáo dục tƣơng tự nhƣ trên.
Quản lý giáo dục có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý các hoạt động giáo dục trong ngành giáo dục, quản lý một số cơ sở giáo dục đào tạo ở một địa phƣơng hành chính nào đó. Quản lý giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trƣờng hay ngoài xã hội. Quản lý xã hội có hệ thống nguyên tắc, chức năng và các giai đoạn của chu trình quản lý giáo dục cụ thể. Song cần hiểu khái niệm quản lý giáo dục một cách toàn diện bao gồm cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp bởi vì suy đến cùng dù đƣợc hiểu theo nghĩa nào thì đích cuối cùng của quản lý giáo dục vẫn là vận dụng các quy luật khách quan để nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Quản lý trường mầm non Quản lý trƣờng mầm non là tập hợp những tác động tối ƣu của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên của nhà trƣờng, nhằm thực hiện có chất lƣợng mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trƣờng, trên cơ sở tận dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của xã hội, nhà trƣờng và gia đình. Hiệu trƣởng là chủ thể quản lý giữ vai trò chủ đạo, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trƣờng. Hiệu trƣởng quản lý toàn diện nhà trƣờng theo chế độ thủ trƣởng và có hiệu phó giúp việc đƣợc phân công một số mặt công tác do hiệu trƣởng quyết định, có giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi. Hoạt động của trƣờng mầm non rất đa đạng và phức tạp.
Hiệu trƣởng làm tốt công tác quản lý sẽ góp phần thực hiện tốt các mục tiêu cơ bản của nhà trƣờng: thu hút ngày càng đông số trẻ em trong độ tuổi đến trƣờng trên địa bàn hành chính nơi trƣờng đóng; Đảm bảo chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ theo mục tiêu đã đề ra; Xây dựng tập thể sƣ phạm lành mạnh đủ sức để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra; Xây dựng, sử dụng và bảo quản e 14 tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trƣờng; Thu hút các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây dựng, quản lý và phát triển nhà trƣờng, tạo ra sự thống nhất các lực lƣợng giáo dục trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Ngôn ngữ là phƣơng tiện để phát triển tƣ duy, là công cụ hoạt động trí tuệ và là phƣơng tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Đối với trẻ 3 - 6 tuổi, phát triển ngôn ngữ chủ yếu qua việc phát triển kỹ năng nghe và nói, giúp trẻ tăng vốn từ, tập cho trẻ diễn đạt ý bằng lời, giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Hoạt động phát triển ngôn ngữ thực hiện mọi lúc mọi nơi trong các thời điểm sinh hoạt của trẻ ở trƣờng. Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trƣờng mầm non chủ yếu bao gồm: * Gi o dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt (Luyện ph t âm chuẩn cho trẻ) - Luyện cho trẻ nghe âm thanh ngôn ngữ. - Dạy trẻ phát âm đúng là dạy cho trẻ biết phát âm chính xác các âm vị, âm tiết, từ, câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng mẹ đẻ.
- Dạy trẻ phát âm đúng là còn phải dạy cho trẻ biết điều chỉnh âm lƣợng, thể hiện đúng ngữ điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp. - Sửa các lỗi phát âm cho trẻ. * Hình thành và ph t triển vốn từ cho trẻ Trẻ nói đƣợc nhờ nghe ngƣời lớn nói và bắt chƣớc. Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp.
* Dạy trẻ nói đúng ngữ ph p và nói c c kiểu câu theo mục đích ph t ngôn - Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp: Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói e 15 đƣợc các mô hình câu, các thành phần câu cũng nhƣ vị trí của các thành phần bằng cách cho trẻ thƣờng xuyên đƣợc nghe, đƣợc nói theo các mô hình câu chuẩn để từ đó dần dần nắm đƣợc cách cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ. - Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn: Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn gồm: Câu kể (câu tƣờng thuật, câu trần thuật), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cầu khiến, câu cảm thán. * Ph t triển ngôn ngữ mạch lạc Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định. Đơn vị giao tiếp thấp nhất là câu và cao nhất là ngôn bản.
Vì thế, sự mạch lạc của lời nói rất cần thiết. Nó đƣợc phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khả năng tƣ duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ chính là sự mạch lạc của tƣ duy. Dạy lời nói mạch lạc có hai dạng là đối thoại và độc thoại.
* Gi o dục văn ho giao tiếp ngôn ngữ Văn hoá giao tiếp ngôn ngữ thể hiện trong tất cả các thành tố ngôn ngữ nhƣ: - Sử dụng âm thanh, ngữ điệu sao cho phù hợp, biểu cảm. - Sử dụng từ chính xác, phong phú, gợi cảm. - Sử dụng các mẫu câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. - Lời nói rõ ràng, mạch lạc, sử dụng các phƣơng tiện biểu cảm, các phƣơng tiện tu từ; tăng cƣờng hiệu quả giao tiếp một cách có văn hoá.