phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận văn, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Một số vấn đề lý luận. Thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
12 e Chƣơng 1 QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Lý luận chung về thi đua, khen thƣởng 1. Khái niệm thi đua Sinh thời, C.Mác là một trong những người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung thi đua, C.Mác cho rằng, thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh do sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất: “Chưa nói đến một sức mới, xuất hiện khi nhiều sức hợp nhất lại thành một sức chung, trong phần lớn các công việc sản xuất, ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đã đẻ ra thi đua, cũng kích thích nguyên khí (ani-mal spirit) làm tăng năng suất cá nhân của từng người riêng rẽ… Đó là vì con người ta, do bản tính, nếu không phải là một động vật chính trị như Arixtốt nói, thì dẫu sao cũng là một động vật xã hội” [11, tr.Mác cũng chỉ rõ, lao động kết hợp sẽ tạo ra giá trị sử dụng to lớn hơn lao động cá biệt và riêng lẻ, do đó giảm bớt được thời gian lao động cần thiết để đạt được một hiệu quả có ích nào đó. Sức sản xuất của lao động kết hợp là sức sản xuất của lao động xã hội, nảy sinh từ chính ngay sự hợp tác.
Để nâng cao sức sản xuất của lao động xã hội trong quá trình hợp tác giữa những người lao động, C.Mác nói đến “tinh thần thi đua”, “thúc đẩy tinh thần thi đua và kích thích sức sống của những người riêng rẽ” [11, tr. Trên cơ sở những quan điểm, nền tảng của C.Ăngghen về thi đua, V.Lênin coi thi đua là một tất yếu, một nguồn tiềm năng to lớn của Chủ nghĩa xã hội, “Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại lần đầu tiên đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách rộng rãi, với quy mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận, những tài năng mà chủ nghĩa tư bản đã giày xéo, đè nén, bóp nghẹt mất hàng nghìn, hàng triệu. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi Chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền là phải tổ chức thi đua” [40, tr. 13 e Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng.
Hồ Chí Minh coi tổ chức thi đua là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, biến thành sức mạnh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc. Người khẳng định: “Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng” [29, tr. Đồng thời, khi bàn luận về thi đua, Người đã nhấn mạnh: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua.
Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy” [30, tr. Thi đua là công việc diễn ra hàng ngày trong một tập thể trên tất cả các mặt hoạt động nhằm đạt kết quả tốt nhất.
Quan niệm thi đua yêu nước còn được thể hiện ở việc lấy thi đua làm động lực phát huy tinh thần yêu nước, động lực đó được thể hiện bằng hành động thực tế, ngược lại lấy lòng yêu nước để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thi đua, “Thi đua lấy tinh thần yêu nước làm gốc. Thi đua rộng và sâu. Thi đua nhà này với nhà khác, tổ này với tổ khác, làng này với làng khác. Trong một mùa, chia làm mấy đợt thi đua nhỏ, như cày, bừa, chọn giống, bón phân, làm cỏ, gặt hái, nộp thóc thuế” [30, tr.307], “Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm.
Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi” [30, tr. Đây là luận điểm có giá trị bổ sung và phát triển lý luận Mác - Lênin về thi đua trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nó có giá trị lớn về thực tiễn không chỉ trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc trước đây, mà còn có giá trị trong việc tổ chức, phát động các phong trào thi đua yêu nước trong công cuộc đổi mới hiện nay. Những tư tưởng đổi mới về thi đua yêu nước và công tác khen thưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 3/6/1998, Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị và trong Kết luận 14 e số 83-KL/TW ngày 30/8/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khẳng định cần tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh coi thi đua, khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hằng ngày “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ” [30, tr.270], “Thi đua cải tạo con người mới” [30, tr.475], đồng thời coi thi đua yêu nước là động lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, “Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” [6, tr.
Để tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, ngày 07/4/2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW. Điều này khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm đến vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để thi đua thực sự trở thành động lực của sự phát triển thì công tác thi đua, khen thưởng cần phải được đổi mới và đi vào thực chất, vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng là việc làm hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Thi đua là cùng nhau đưa hết khả năng ra nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất” [60, tr.
Khoản 1, Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, luận văn sử dụng khái niệm thi đua được quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003. Mục tiêu thi đua cũng được quy định tại Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013 là: “Mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục đích thi đua là nhằm huy động, khai thác mọi tiềm năng của mỗi cá nhân và toàn xã hội làm cho hoạt động của cá nhân và tập thể đạt kết quả tốt nhất, 15 e đơn vị, ngành, địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, thi đua là nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng mới, đạo đức mới, nhằm rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động, làm cho con người phát triển hoàn thiện hơn. Nguyên tắc thi đua được quy định tại Khoản 1, Điều 6 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 gồm “Tự nguyện, tự giác, công khai; Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển”. Hình thức thi đua bao gồm: Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau; Thi đua chuyên đề (hoặc theo đợt) là hình thức thi đua để thực hiện tốt nhiệm vụ công tác trọng tâm, được xác định trong khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, cấp bách của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Chỉ phát động thi đua theo chuyên đề khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian. Danh hiệu thi đua gồm: Danh hiệu thi đua đối với cá nhân; Danh hiệu thi đua đối với tập thể; Danh hiệu thi đua đối với gia đình. Khoản 1, Điều 20 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 quy định: Danh hiệu thi đua đối với cá nhân gồm: Chiến sỹ thi đua toàn quốc; Chiến sỹ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương; Chiến sỹ thi đua cơ sở; Lao động tiên tiến, Chiến sỹ tiên tiến. Khoản 2, Điều 20 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 cũng quy định: Danh hiệu thi đua đối với tập thể gồm: Cờ thi đua của Chính phủ; Cờ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương; Tập thể lao động xuất sắc, Đơn vị quyết thắng; Tập thể lao động tiên tiến, Đơn vị tiên tiến; Thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa.