phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di tích lịch sử - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị - Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 9 e Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ 1. Di tích lịch sử và những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm di tích Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hoá và lịch sử. Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi. Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển [30, tr. Điều 4 của Luật DSVH năm 2001 phân loại di tích thành 4 loại: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ và Danh lam thắng cảnh [34, tr.
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, DTLS-VH, danh lam thắng cảnh được chia thành 3 loại: Di tích cấp tỉnh - là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương do UBND tỉnh ra quyết định công nhận; di tích Quốc gia - là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ VH,TT&DL ra quyết định công nhận; di tích Quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia” do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ VH,TT&DL xếp hạng là di tích quốc gia. 10 e Di tích lịch sử: liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc. Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau. Di tích kiến trúc nghệ thuật Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc.
Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Di tích khảo cổ Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Di tích thắng cảnh Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu [34, tr.
Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha. Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, Cao 11 e nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng.
Tuy nhiên, trong đề tài này, tác giả chỉ chọn nghiên cứu về di tích lịch sử, là một trong những đặc trưng của tỉnh Quảng Trị. Khái niệm di tích lịch sử Điều 1 Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 04/4/1984 của Hội đồng Nhà nước về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh (DTLS,VH) quy định rõ: Di tích lịch sử, văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội. Danh lam, thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng cổ, đẹp nổi tiếng. Mọi di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh đều được Nhà nước bảo vệ.
Theo Luật Di sản văn hóa (Luật DSVH) năm 2001 thì DTLS là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Luật DSVH sửa đổi năm 2009 quy định: di tích lịch sử, văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [34, tr. Khái niệm Di sản văn hoá Di tích chính là di sản văn hóa của mỗi quốc gia. Vì vậy, Luật Di sản Văn hóa (Luật DSVH) của Việt Nam quy định: "DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [34, tr.
Điều 1 Luật DSVH của Việt Nam nêu rõ DSVH “Bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [34, tr. Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay và tương tự như khái niệm về DSVH được sử dụng trên thế giới. Điều đó có nghĩa DSVH là của cải, là tài sản quốc gia mà mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn. Di sản văn hóa được chứa đựng các yếu tố sau: thứ nhất, di sản văn hóa chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con người.
Thứ hai, là hội tụ những yếu tố, phẩm chất: đúng, tốt đẹp, có ích. Thứ ba, phải biểu hiện thành những hiện tượng văn hóa. Thứ tư, tính lịch sử sẽ làm cho vốn di sản văn hóa có bề dày về thời gian, sự phong phú về loại hình. Theo công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là: - Các di tích: các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học. 13 e - Những di sản văn hóa vô thể như các biểu hiện tượng trưng và không sờ thấy được của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo của đông đảo cộng đồng. Đó là âm nhạc, múa, ngôn ngữ nghi thức, phong tục tập quán, y học, y dược, cổ truyền, nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ và các nghề truyền thống. Luật Di sản Văn hóa Việt Nam số 28/2001/QH khóa 10 và Luật sửa đổi một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12, khẳng định: Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
Khái niệm DSVH phi vật thể được giải thích trong Luật DSVH năm 2001 và được điều chỉnh tại Luật DSVH năm 2009: “DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [34, tr 04]. Trong đề tài này, tác giả không đi sâu vào khái niệm này.