Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 1. Khái niệm chính sách công Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công. Có thể kế đến một số định nghĩa tiêu biểu sau: Chính sách công theo Thomas Dye: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [14, tr.
Guy Peter định nghĩa: ".chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" [14, tr. Cochran and Eloise F. Malone thì : “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội” [14, tr. 8]; Ở nước ta, cũng có nhiều quan niệm rất khác nhau về chính sách công.
Có thể kể ra đây một số định nghĩa đáng chú ý sau: Tác giả Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [25, tr. 51] Viện Chính trị học cho rằng: “.chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [55, tr. 235], một tập thể các tác giả khác lại cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành,bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [20, tr. 10] Tác giả Lê Chi Mai phân tích về khái niệm chính sách công ở Việt Nam, có chủ thể ban hành là Nhà nước, CSC là kết quả của các quyết định chính phủ nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết các vấn đề của xã hội, trong đó là các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội theo mục tiêu tổng thể của Đảng đã vạch ra từ trước.
Vì vậy mà ở Việt Nam, chúng ta thường đề cập đến cụm từ “chính sách của Đảng và Nhà nước” [14, tr9-11]. Lê Văn Hòa trong công trình “Quản lý thực thi Chính sách công theo kết quả” đã khái quát quan niệm về chính sách công cùng những đặc điểm rút ra như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. 7] Theo đó, học giả đã rút ra 07 đặc điểm cơ bản về chính sách công: Thứ nhất, CSC bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành và nội dung của chính sách được thể hiện trong các văn bản, quyết định của Nhà nước. Thứ hai, CSC bao gồm một tập hợp các quyết định được ban hành qua một giai đoạn và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách.
CSC luôn không được thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền với nhau. Thứ ba, CSC hướng tới giải quyết vấn đề công và tác động đến lợi ích của một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Thứ tư, CSC bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách. Thứ năm, mục tiêu của CSC là tạo ra những thay đổi và nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc địa phương.
Thứ sáu, các CSC luôn thay đổi theo thời gian, bởi những quyết định sau đó có thể có những điều chỉnh so với các quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm về thực thi chính sách công được phản hồi vào quá trình ra quyết định; và do định nghĩa về các vấn đề CSC cũng thay đổi qua thời gian. Cuối cùng, về cơ bản CSC được xem là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và của cả xã hội [21, tr.8] Các định nghĩa trên cho thấy cách quan niệm của các học giả về chính sách công có một số điểm lưu ý sau: Thứ nhất, với tư cách chính sách của nhà nước, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước. Thứ hai, chủ thể chính sách công là nhà nước và nếu có mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. Tuy nhiên, với đặc thù chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp).
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách – đó chính là những căn cứ để Nhà nước ban hành CSC. Như vậy, về thực chất, các chính sách công ở Việt Nam là do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đề ra, trên cơ sở cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phục vụ lợi ích nhân dân. Về cốt lõi, mục tiêu chinh sách đã được Đảng định hướng, Nhà nước được trao quyền xây dựng chính sách để hiện thực hóa các ý tưởng, mục tiêu tổng thể của Đảng. Thứ ba, việc đề xuất thực hiện một chính sách công có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng theo những mục tiêu nhất định.
Thứ tư, chính sách công bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau; là một quá trình từ khâu xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá, điều chỉnh chính sách. Như vậy, chính sách công có nhiều khái niệm từ những góc nhìn khác nhau. Theo tác giả, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chính sách công có thể được hiểu là tất cả quyết định làm hay không làm của chủ thể được trao quyền lực công nhằm xử lý những vấn đề mang tính xã hội, cộng đồng trên mọi lĩnh vực của đời sống nhằm đạt mục tiêu phát triển của quốc gia, của địa phương. Khái niệm thực hiện chính sách công Thực hiện hay thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện/thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công.
Như phân tích của các học giả, chu trình chính sách công là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách đến khi kết quả chính sách được đánh giá. Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại. Thực hiện chính sách là một hệ thống nhất - nhất là với hoạch định chính sách. So với các khâu khác trong chu trình chính sách, thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Cũng có thể nhận định, đó là khâu trung tâm của chu trình chính sách. Chu trình rút gọn của chính sách công gồm 3 bước: 1. Xây dựng chính sách; 2. Tổ chức thức hiện chính sách; 3.
Đánh giá chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách: là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng. Tổ chức thực hiện chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu.
Nhưng dù tốt đến đâu chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện. Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách cần phải bảo đảm các 03 yêu cầu: (1) Thực hiện đúng trình tự các bước trong tổ chức thực hiện chính sách công. (2) Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách công.(3) Đề cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia tổ chức thực hiện chính sách công, chủ động đề xuất các biện pháp, giải pháp để tổ chức thực hiện các bước có hiệu quả. Các bước tổ chức thực hiện chính sách công bao gồm: 1.
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách 4. Duy trì chính sách 5.
Điều chỉnh chính sách 6. Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách 7. Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm. Chủ thể tham gia thực hiện CSC, bao gồm: (1) Chủ thể thực hiện: là các cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan đó – đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách công.
(2) Chủ thể tham gia: là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng hưởng thụ CSC: cộng đồng dân cư, các nhóm dân số, thậm chí cả người dân. Khái niệm chính sách văn hóa và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 1. Khái niệm chính sách văn hóa Chính sách văn hóa là một trong những lĩnh vực của chính sách công. Căn cứ định nghĩa của UNESCO năm 2002: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa”.
Có quan niệm cho rằng, chính sách văn hóa là hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực hiện đời sống văn hóa theo quan điểm phát triển và các thức quản lý riêng, đáp ứng như cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội [45, tr. 21] Chính sách văn hóa bao hàm nhiều nội dung.