CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT CÔNG, ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Nhận thức chung quản lý nhà nước đối với đất công, đất nông nghiệp 1. Đất công, đất nông nghiệp Đất công: Quỹ đất được gọi là đất công do Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường và thị trấn quản lý hiện nay khác với loại đất công làng xã trước đây, nếu như thời kỳ phong kiến, đất công làng xã được chia cấp cho những người trong làng xã đó sử dụng theo quy định của Nhà nước thì đất công hiện nay là loại đất được Nhà nước giao cho chính quyền cấp xã quản lý, sử dụng. Đất công ngoài mục đích sử dụng là đất công cộng nó còn bao gồm tất cả các mục đích liên quan đến của công khác như đất xây dựng các công trình nhà nước, đất quốc phòng, đất an ninh, nghĩa trang, đất chưa sử dụng, các quỹ đất được nhà nước xác lập quản lý bằng văn bản… Nói một cách chính xác thì đất công là đất thuộc quyền sở hữu nhà nước và không thuộc quyền sở hữu riêng của bất cứ một cá nhân hay một tổ chức nào làm bất cứ việc gì trên mảnh đất đó trừ khi có văn bản hoặc quyết định của Nhà nước.
Khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực, đất công được thống kê vào nhóm đất chưa sử dụng và nhóm đất sử dụng vào mục đích công cộng. Theo điều 3, Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 thì đất chưa sử dụng và đất sử dụng vào mục đích công cộng thuộc trách nhiệm quản lý của UBND xã, phường, thị trấn. 7 Khi Luật đất đai 2013 được ban hành, loại đất công do cấp xã quản lý được đưa vào nhóm đất phi nông nghiệp nhưng không hình thành loại đất riêng mà được hàm chứa trong các loại đất (ngoài các loại đất công cộng khác theo quy định của Chính phủ). Căn cứ theo quy định tại khoản 2, điều 7, Luật Đất đai 2013: “UBND cấp xã được giao đất phi nông nghiệp để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở UBND, các công trình công cộng phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và công trình công cộng khác của địa phương”[22].
Căn cứ tại Điểm e, khoản 2, điều 10, Luật Đất đai 2013 quy định: “ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác” [22]. Tại Điều 2 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 73/1998/QĐ-UB ngày 22/12/1998 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy chế tiếp nhận, quản lý hồ sơ và diện tích đất công, đất chưa sử dụng của UBND cấp phường, xã, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hà Nội, có quy định: “Đất công là đất được sử dụng vào mục đích công cộng để xây dựng đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước, sông, hồ, đê, đập, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, bến cảng và các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ”[24]. Diện tích đất công trên địa bàn quận Cầu Giấy gồm: Các diện tích đất 8 chưa sử dụng, đất sử dụng vào mục đích công cộng do UBND các phường quản lý và diện tích đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công cộng do UBND các phường quản lý. Đất nông nghiệp: Đất là khái niệm chỉ phần lục địa không phải là biển của trái đất.
Tuy nhiên, do mỗi vị trí trên trái đất đều gắn với tọa độ, độ sâu, khoáng sản trong lòng đất và khoảng không trên đất mà người sở hữu đất riêng lẻ khó có khả năng khai thác hết công năng của nó, nên phát sinh các cách hiểu khác nhau về nội hàm khái niệm đất, nhất là dưới giác độ pháp lý. Gần đây, khái niệm đất với nội hàm đầy đủ nhất được Hội nghị quốc tế về Môi trường tại Rio de Janero, Brazil (2003) đưa ra, trong đó đất được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như khí hậu bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa…). Đất được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Ở Việt Nam, đất được phân loại theo mục đích sử dụng gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng.
Theo cách phân loại của Luật Đất đai Việt Nam năm 2013, đất nông nghiệp được hiểu là diện tích đất được dùng để sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, mục đích bảo vệ, phát triển rừng và dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên của quốc gia. Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. 9 Theo FAO, đất nông nghiệp bao gồm đất canh tác là đất trồng cây hàng năm như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu (bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang), đất trồng cây ăn trái, đất trồng cây lâu năm và những cánh đồng, thửa ruộng, đồng cỏ tự nhiên phục vụ chăn thả gia súc. Kế thừa điểm chung của các định nghĩa nêu trên, có thể định nghĩa về đất nông nghiệp như sau: đất nông nghiệp là một phần trong tổng diện tích đất tự nhiên của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và một số hoạt động khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định. Quản lý là một tất yếu khách quan do lịch sử quy định, là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý. Quản lý là sự tác động định hướng bất kì lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Sự quản lý được thực hiện bởi chủ thể là các cơ quan và nhân viên nhà nước trên cơ sở pháp luật gọi là quản lí nhà nước.
QLNN có tính toàn diện, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. QLNN ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, có tính tổ chức rất cao. Thứ hai, QLNN có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu. 10 Thứ ba, QLNN theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Thứ tư, QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Thứ năm, QLNN đảm bảo tính liên tục và ổn định trong tổ chức. Vậy QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. QLNN về đất đai là một phân hệ của QLNN.
Một cách chung nhất, có thể hiểu QLNN về đất đai là tác động thường xuyên, có chủ đích của cơ quan nhà nước được phân công QLĐĐ đến đất đai, quan hệ người - người trong lĩnh vực đất đai và việc SDĐ nhằm bảo vệ nguyên vẹn lãnh thổ, khuyến khích SDĐ có hiệu quả và bảo hộ quyền của người sở hữu đất. Có thể thấy, QLNN về đất đai là quá trình bao gồm một hệ thống các hoạt động thống nhất, mang tính phối hợp giữa các cơ quan QLNN có thẩm quyền trong việc kiểm soát, bảo vệ nguồn tài nguyên đất, khuyến khích người SDĐ hiệu quả, tạo điều kiện cho thị trường bất động sản hoạt động minh bạch, tạo cơ chế thể chế hóa hợp lý và bảo hộ quyền của chủ sở hữu đất. QLNN về đất đai bao gồm hai lĩnh vực chính: Một là quản lý đất với tư cách lãnh thổ, tài nguyên quốc gia. Để làm được điều này, chính phủ phải phân định được đường biên giới với nước láng giềng, vẽ bản đồ lãnh thổ (bản đồ phân định địa giới hành chính; bản đồ phân định loại đất; bản đồ tài nguyên khoáng sản trong lòng đất.), quy hoạch không gian lãnh thổ, xây dựng các kế hoạch sử dụng, cải tạo đất khi cần thiết, thu thập, lưu giữ thông tin về đất.
11 Hai là đề ra các nguyên tắc, quy định các thủ tục hành chính liên quan đến sở hữu, sử dụng, cải tạo, giao dịch đất đai nhằm duy trì sự ổn định của các quan hệ đất đai, khuyến khích SDĐ hiệu quả và phát triển thị trường bất động sản một cách lành mạnh. QLNN đối với đất đai là tất yếu khách quan ở tất cả các nước do tính chất đặc thù của đất đai không phải chỉ là tài sản của một chủ thể kinh tế nào đó, mà còn là lãnh thổ, trên đó thể hiện chủ quyền quốc gia, là môi trường sống chung của cộng đồng dân cư, là thành quả đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của nhiều thế hệ công dân. Song, mỗi nước có chế độ QLNN đối với đất đai phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Ở Việt Nam, ngoài các hoạt động QLĐĐ như các nhà nước khác, Nhà nước Việt Nam còn đảm nhiệm thêm chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân trong xử lý các quan hệ đất đai với các chủ thể SDĐ khác.