Chương 1, Luật GDNN, cơ sở GDNN bao gồm: Trung tâm GDNN, trường Trung cấp và trường Cao đẳng. Cơ sở GDNN được tổ chức theo hình thức: - Cơ sở GDNN công lập là cơ sở GDNN thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. - Cơ sở GDNN tư thục là cơ sở GDNN thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp; tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân,… đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. - Cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở GDNN 100% vốn nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở giáo dục liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Mục tiêu cụ thể đối với trình độ GDNN được quy định cụ thể như sau: - Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề. - Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. - Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có khả năng thực hiện được các công việc trình độ trung cấp và giải quyết được tính phức tạp chuyên ngành hoặc nghề, có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc. Vai trò của trường đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục Việt Nam Trường đào tạo nghề là cơ sở ĐTN thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Về mặt pháp lý, trường đào tạo nghề là đơn vị sự nghiệp, có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật; có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Trường đào tạo nghề giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc nền giáo dục Việt Nam. Trong nền kinh tế trí thức, khi mà trí thức là động lực của kinh tế thì sự phân công lao động có sự khác biệt với nền kinh tế truyền thống. Đó là xuất hiện đội ngũ những người lao động tri thức, có trình độ cao là các kỹ sư, những nhà khoa học, sản phẩm của họ là ý tưởng, những công trình nghiên cứu khoa học trên một số lĩnh vực cụ thể được đưa trực tiếp vào nền kinh tế và tạo ra giá trị cho xã hội; họ là những người đưa lý thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển của đất nước.
Vai trò của trường đào tạo nghề được xác định dựa trên mục tiêu của loại hình cơ sở giáo dục này, đó là “đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước” [21, tr. Như vậy, trường đào tạo nghề đóng vai trò là cơ sở đào tạo nguồn lực lao động kỹ thuật trực tiếp có trình độ cao nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập và đổi mới GDNN, vai trò của các trường đào tạo nghề lại càng được khẳng định và nâng cao hơn. Hệ thống trường đào tạo nghề tuy chưa phát triển mạnh nhưng cũng đã có những nỗ lực vượt khó khăn, tìm tòi cách đi, cách hoạt động, gánh vác một phần tải trọng giáo dục nói chung và GDNN nói riêng và mở rộng cơ hội học 11 nghề cho xã hội.
Nhiều trường đào tạo nghề đã khẳng định được chất lượng, tạo được niềm tin cho xã hội góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội, nâng cao năng lực đào tạo nghề và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục Việt Nam. Hơn nữa, các trường đào tạo nghề đã tạo công việc cho hàng nghìn cán bộ và nhà giáo, huy động được nguồn lực to lớn của xã hội để hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa GDNN của Đảng và Nhà nước; sự ra đời và phát triển của các trường đào tạo nghề đã có tác động mạnh mẽ và góp phần quan trọng vào sự nghiệp giáo dục Việt Nam. Mặc dù, các trường đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là trong tạo dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, nhà giáo và tổ chức hoạt động ĐTN; nhưng phương thức này cho phép huy động sự đóng góp của các nhà đầu tư để xây dựng hệ thống trường đào tạo nghề, góp phần thực hiện xã hội hóa GDNN, đáp ứng nhu cầu học nghề và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp. Quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề 1.
Một số khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề - Khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. QLNN được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước định nghĩa “ QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [16, tr. 12 Như vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước trên cơ sở và để thi hành hiến pháp, luật, và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên nhằm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của công dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
- Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề: Trên cơ sở cách hiểu của khái niệm quản lý nhà nước và các quy định của Luật GDNN năm 2014, có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước, được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực GDNN và các lĩnh vực khác có liên quan đến các trường đào tạo nghề; đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của trường đào tạo nghề; bảo vệ quyền lợi của người học tại các trường đào tạo nghề và lợi ích của xã hội; góp phần thực hiện mục tiêu chung và từng mục tiêu cụ thể của trường đào tạo nghề theo quy định tại Luật GDNN. Theo cách hiểu về khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đào tạo nghề như trên cho thấy, khách thể quản lý (cũng là đối tượng quản lý) ở đây chính là các trường đào tạo nghề, với tư cách là một cơ sở GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật. - Đặc điểm quản lý nhà nước đối với trường đào tạo nghề: Một là, kết hợp QLNN và quản lý chuyên môn hoạt động trường đào tạo nghề. Nó vừa theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động của quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường đào tạo nghề nói riêng, vừa theo nguyên tắc hành chính giáo dục đối với một cơ sở ĐTN.
QLNN đối với trường đào tạo nghề thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước quy định; các cơ quan, tổ chức thay mặt nhà nước triển khai sự nghiệp giáo dục và điều hành, điều chỉnh các hoạt động ĐTN tương ứng phù hợp đối với từng địa phương. QLNN thực chất là việc xây dựng các văn bản pháp quy 13 và chấp hành các văn bản. Kết hợp với quản lý giáo dục là đưa việc xây dựng các văn bản cho các hoạt động chuyên môn của trường đào tạo nghề và làm cho mọi người hiểu, biết được các quy định của văn bản để thực hiện cho đúng. Hai là, về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý.
QLNN đối với các trường đào tạo nghề cũng là đặc điểm nổi bật của QLNN ở mọi lĩnh vực, đó là tính quyền lực nhà nước trong các hoạt động quản lý. Đặc điểm này biểu hiện ở các nội dung sau: + Điều kiện để triển khai QLNN là phải có tư cách pháp nhân và yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý trong quản lý là yêu cầu đầu tiên. Muốn có tư cách pháp nhân để quản lý phải được bổ nhiệm và khi đã được bổ nhiệm cần phải thực hiện đúng, đủ chức năng, thẩm quyền. Trong QLNN sẽ không có tư cách pháp nhân để "ra quyền” khi chưa được bổ nhiệm.
Tuy nhiên, mỗi tư cách pháp nhân đều có trách nhiệm và quyền hạn tương ứng, việc hiểu cho đúng, làm cho đủ “thẩm quyền” là thước đo khả năng “sử dụng quyền lực nhà nước” của một tư cách pháp nhân. + Phương tiện QLNN đối với trường đào tạo nghề là các văn bản pháp luật. Cần nhận thức rằng văn bản pháp luật là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phản ánh lợi ích của toàn dân, đây chính là lành lang pháp lý cho việc triển khai các hoạt động QLNN đối với trường đào tạo nghề, bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lý. Việc không tuân thủ hành lang pháp lý trong các hoạt động QLNN tức là vi phạm trật tự kỷ cương và sẽ bị xử lí tuỳ theo quy định của pháp luật.
+ Trong QLNN phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lý theo sự phân công, phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh, phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong QLNN. Tính quyền lực Nhà nước ở đây cũng chính là việc cán bộ quản lý trường đào tạo nghề cấp địa phương cần nhận thức đầy đủ rằng cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương 14 trong quá trình QLNN đối với trường đào tạo nghề.