CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LY MOI TRUONG BANG CONG CU KINH TE 1. Tổng quan tài liệu Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết về việc áp dụng các nhóm công cụ trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và công cụ kinh tế nói riêng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau. Thông qua các kênh thông tin như tra cứu trên mạng internet, tra cứu công báo và danh mục các tài liệu đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong một số các thư viện như: Thư viện của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâm lưu trữ tỉnh Nghệ An. tác giả đã khảo cứu được một số các văn bản Luật, văn bản pháp quy và các công trình nghiên cứu có liên quan như sau: 1.
Tài liệu lý luận công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế Nguyễn Thế Chinh “Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường ” (2003), NXB Thống kê, Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về kinh tế học môi trường, quản lý môi trường xem xét trên góc độ kinh tế. Để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường, từ đó có một cách ứng xử hợp lý cho các nhà kinh tế và quản trị kinh doanh trong hoạt động thực tiễn đối với những vấn đề liên quan đến môi trường. Bên cạnh đó, giáo trình đã phân tích mối quan hệ giữa môi trường và phát triển; những vấn đề cơ bản về kinh tế học chất lượng môi trường; đánh giá tác động môi trường và phân tích kinh tế của những tác động môi trường; những van đề liên quan giữa khan hiểm tài nguyên, dân số, kinh tế và môi trường và những nội dung kiến thức cơ bản của quản lý môi trường phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và xu hướng biên đôi môi trường toàn câu. Trần Thanh Lâm “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế” (2006), NXB Lao Động, cuốn sách đã hệ thống các công cụ kinh tế ứng dụng trong quản lý môi trường nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý môi trường hoạch định chính sách và quản ly môi trường, cũng như những ai quan tâm về lĩnh vực này có cái nhìn tổng quan về một công cụ quản lý được đánh giá là mềm dẻo, dé lựa chọn và hiệu quả trong quản lý môi trường trên nền kinh tế thị trường.
Cuốn sách đã tập hợp, chọn lọc những vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn dé biên soạn, chỉ rõ ra những điều kiện dé các doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch văn bản môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất, kinh doanh va giá thành sản phẩm. Phan Như Thúc “Quản ly môi trường ” (2002), Giáo trình Đại học bach khoa Đà Nẵng, cuốn sách cung cấp những khái niệm cơ bản về môi trường và phát triển bền vững, trong đó chỉ rõ hệ thống quản lý môi trường là thiết yếu, không thé thiếu được dé tốchức có khả năng nhìn thay trước sự tiến triển thực thi môi trường sẽ diễn ra và bảo đảm sự tuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc tế về bảo vệ môi trường. Hệ thống quản lý môi trường thu được kết quả tốt khi mà công việc quản lý môi trường được tiến hành cùng với các ưu tiên hang đầu khác của tổ chức. Ngoài ra, cuốn sách cũng đã chỉ rõ những nguyên tắc chung của quản lý môi trường gồm: Kết hợp các mục tiêu quốc tế- quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường; Hướng tới sự phát triển bền vững; Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện băng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp; Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý hồi phục môi trường nếu dé xảy ra ô nhiễm; Người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh “Quản lý môi trường cho sự phát triển bên vững” (2001), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Tài liệu giúp có một cái nhìn khái quát về lý thuyết phát triển bền vững, định lượng hóa sự phát triển bền vững, các nhóm mục tiêu của phát triển bền vững và định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam. Tài liệu các công trình nghiên cứu thực tiễn công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế: “Đánh giá thực trạng và dé xuất các giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam ” (2015), Bài tham luận hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ 4, bài viết đã đánh giá những việc đã làm được trong thời gian qua đối với công tác bảo vệ môi trường, đó là hệ thống chính sách, pháp luật có bước phát triển vượt bậc; Nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường đã được quan tâm hơn; các công cụ kinh tế bước đầu đã phát huy được vai trò điều phối lợi ích giữa kinh tế và môi trường. Tuy nhiên, bên cạnh đó tham luận cũng đã chỉ rõ đưa ra một số khuyết điểm tồn tại cần phải khắc phục trong thời gian tới.
Trước hết, về quan điểm và nhận thức, có lúc và có nơi, ngay cả ở những cơ quan trung ương, chúng ta chưa thực sự coi môi trường và bảo vệ môi trường phải gắn kết hữu cơ, không thể tách rời với phát triển kinh tế - xã hội; còn coi nhẹ, thậm chí bỏ qua lợi ích môi trường trong các hoạt động kinh tế; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn còn những chồng chéo, chưa rõ ràng trong phân công, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học; về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn còn những chồng chéo, chưa rõ ràng trong phân công, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học. Vẫn còn những quy định chưa thực sự phù hợp; nguồn lực và các điêu kiện đảm bảo cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chê. Nguyễn Ngọc Anh Đào “Luận án tiến sỹ pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bao vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” (2013), Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Luận án nêu Nghị quyết 24-NQ/TW khăng định “Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như đầu tư, thuế, xử lý vi phạm hành chính, dân sự. theo hướng bồ sung, kết hợp khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác, sử dụng tài nguyên va bảo vệ môi trường. Sửa đôi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự. về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ sức răn đe. Đây mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật”.
Băng những nỗ lực của mình, Việt Nam đang dần dần hình thành một hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường với sự ra đời của hàng loạt văn bản pháp luật quy định nhiều biện pháp bảo vệ môi trường như: biện pháp hành chính (đây là biện pháp áp dụng chủ yếu), biện pháp hình sự, biện pháp dân sự và bước đầu sử dụng một số công cụ kinh tế. Nguyễn Lệ Quyên “Luận văn thạc sỹ quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Da Nang” (2012), Trường Dai Học Đà Nẵng, luận văn đã phân tích với vị thé là một trong số các độ thị loại I của Việt Nam, là thành phố động lực của vùng kinh tế Miền Trung — Tây Nguyên, Da Nang đã có bước phát triển khá nhanh về KT-XH. Diện mạo thành phố đã khang trang, văn minh, sạch đẹp và đầy sức sống, thê hiện rõ bản chất của một thành phó trẻ năng động. Các đề án về xây dựng và phát triển môi trường đặc biệt là đề án “Xây dựng Da Nang — Thành phố môi trường” đã tạo nên những hướng phát triển sáng tạo của thành phố, với mục đích lớn nhất là phát trién KT-XH bên vững và phan dau đạt thành phố thân thiện môi trường, đảm bảo các yêu câu về chât lượng môi trường.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của thành phố Đà Nẵng đã được hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả. Về cơ chế quản lý môi trường và tô chức bộ máy quản lý đã có những thay đổi rõ rệt, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý môi trường. Công tác ñảo tạo nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý môi trường đã được chú trọng thông qua việc mở các lớp dao tạo, tập huấn các kỹ năng chuyên môn. Bên cạnh việc chỉ đạo sát sao thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, thành phố còn ban hành các văn bản dưới luật, ñặc biệt sự lồng ghép chương trình bảo vệ môi trường với chiến lược phát triển KT-XH.
Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về môi trường của Tp.Đà Nẵng vẫn còn một số hạn chế như tình trạng ban hành các văn bản dưới luật chưa kip thời, chưa sát với tình hình thực tiễn. Trần Thị Hòa “Luận văn thạc sỹ thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế trong quan ly môi trường trên địa bàn thành pho Hà Nội” (2008), Dai học Kinh tế quốc dân Hà Nội, tài liệu nêu thành phố Hà Nội với vị thế là thủ đô của cả nước cũng không tránh được những hệ quả về suy thoái môi trường do các hoạt động sinh sống, hoạt động sản xuất công nghiép,.Do đó cần thiết phải tiến hành quan lý môi trường bằng các biện pháp kinh tế bởi các công cụ kinh tế tiếp cận môi trường linh hoạt, hiệu quả và kinh tế, nó cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường được áp dụng trên địa ban thành phố Hà Nội bao gồm phí thu gom rác thải, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và phí xăng dầu, quỹ môi trường, đây là những công cụ kinh tế cơ bản được sử dụng.