Chương I - Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2009 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tông nguồn vốn, tổng nguồn vốn tương đương tông tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thê như sau: 11 Bảng 1.1: Tiêu thức xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tông Tông nguôn | , ` „ , Sô lao động nguôn von vôn I. Nông, lâm ` từ trên 10 | từ trên 20 tỉ | từ trên 200 I0 người | 20 tỉ đông " ` , " nghiệp và thủy , , người đên | đông đên người đên trở xuông | trở xuông ` sản 200 người | 100 tỉ đông | 300 người Il. Công ` từ trên 10 | từ trên 20 tỉ | từ trên 200 ; 10 người | 20 tỉ đông "¬ ` , " nghiệp và xây trở xuống | trở xuống người đên | đông đên người đên dựng 200 người | 100 tỉ đồng | 300 người ` từ trên 10 | từ trên 10 ti | từ trên 50 IH. Thương 10 người | 10 tỉ đông người đến | đồng đến 50] người đến 50 người tỉ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP) Căn cứ theo quy định trên, Doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp có quy mô như sau : - Đối với lĩnh vực thương mại và dịch vụ, Doanh nghiệp lớn là Doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 50 tỉ đồng và số lao động trên 100 người - Đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, Doanh nghiệp lớn là Doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỉ đồng và số lao động trên 300 người.
Ngày 19/4/2010, Bộ Tài chính ký quyết định số 856/QD-BTC quy định danh sách doanh nghiệp thuộc diện Tổng cục Thuế trực tiếp tổ chức công tác quản lý thuế. Đây là một bộ phận chủ yếu trong số các doanh nghiệp lớn ở 12 Việt nam. Theo quyết định này, vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế tham gia quản lý thuế đối với 35 Tổng công ty, tập đoàn gồm 415 doanh nghiệp là các công ty con trực thuộc, đơn vị liên kết ., có mạng lưới thành viên trên địa bàn cả nước, song tập trung chủ yếu ở thành phố Hà Nội (158 doanh nghiệp), Tp. Hồ Chí Minh (73), Quảng Ninh (26), Hải Phong (16), Bà Rịa-Vũng Tàu (14), Đà Nẵng (8), Đồng Nai (6).
Đặc điểm của doanh nghiệp lớn Các doanh nghiệp lớn thường có các đặc điểm nồi bật như sau : - Thường hoạt động ở tầm quốc gia, quốc tế, là những đối tượng có tiềm năng đóng góp số thu cao nhất trong tổng thu ngân sách quốc gia. - Các giao dich, hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau và hoạt động rải rác ở các khu vực địa lý khác nhau. - Thường tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh phức tap, đa dang, nên thường lợi dụng các kẽ hở của luật thé dé tránh thuế hoặc trốn thuế. - Nhiéu giao dich được thực hiện với các đối tác nước ngoài dẫn đến khả năng chuyền lợi nhuận ra nước ngoài, làm thất thu thuế của nhà nước.
- Có xu hướng triển khai thực hiện nhiều vấn đề tài chính phức tạp hoặc tạo ra các cơ chế đề tối thiểu hóa số tiền nộp thuế. - Thường thuê các chuyên gia tư van thuế hoặc các luật sư giỏi nhằm mục đích chính là giảm thiểu nghĩa vụ thuế đề tối đa hóa lợi nhuận. - Thường lưu giữ chứng từ, số sách kế toán chặt chẽ va có hệ thống quản lý hiện đại, có hệ thống tin học phát triển. Ở Việt Nam, Doanh nghiệp lớn thường là doanh nghiệp nhà nước trọng điểm, có cơ cau tô chức đa ngành nghề như tập đoàn, tông công ty, bao gồm cả đơn vi hạch toán độc lập và phụ thuộc, hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau trên cả nước; hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có chỉ nhánh, công ty con; hoặc các công ty cổ phan.
Vai trò của doanh nghiệp lớn - Đóng góp nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp lớn là một trong số các nguồn thu chủ yếu cung cấp tài chính cho Ngân sách nhà nước thông qua thuế, phí và góp phần tạo ra tích lũy cho nền kinh tế quốc gia. Có thể nói, đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đóng góp của doanh nghiệp lớn vào tổng thu nhập quốc dân và Ngân sách nhà nước là rất lớn. Ngay cả với nhiều nước công nghiệp phát trién, tỉ lệ đóng góp của Doanh nghiệp lớn vào tổng thu nhập quốc dân cũng khá lớn.
Theo thống kê của Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn, với 415 Doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, chịu sự quản lý thuế của Tổng cục Thué trong năm 2009 và 2010 đóng góp khoảng 36% tong thu Ngân sách nhà nước/năm (bao gồm cả số thu từ dầu thô). - Góp phần định hướng phát triển hệ thống doanh nghiệp. Doanh nghiệp lớn huy động được các nguồn lực vật chất, lao động và vốn trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh, hình thành nên những công ty hiện đại, có quy mô lớn, góp phần định hướng phát triển hệ thống doanh nghiệp. Doanh nghiệp lớn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước công nghiệp hóa, là giải pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh với các công ty nước ngoài.
Với sự hỗ trợ của nhà nước và những định hướng phát triển đúng dan, các Doanh nghiệp lớn có thé mở rộng thị trường ra thé giới. - Tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp lớn với tiềm lực về tài chính và nhân lực, với quy mô hoạt động lớn, là môi trường có thể đáp ứng và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, ứng dụng, triển khai tiễn bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh. - Tạo ra nhiễu việc làm cho xã hội.
Doanh nghiệp lớn cần bộ máy tô chức tốt, hệ thống chi nhánh trên địa bàn rộng, góp phan tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Theo kết quả tông hợp của Vu quan lý thuế Doanh 14 nghiệp lớn, số lượng lao động đang làm việc tại 415 Doanh nghiệp lớn trong năm 2010 khoảng 1,2 triệu lao động. Năng suất lao động bình quân dat khoảng 1.800 tỉ đồng/người/năm. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 7.1 triệu đồng/người/tháng.
- Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kể cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Các Doanh nghiệp lớn thu hút lượng lớn tài nguyên dé sản xuất hàng hóa đa dạng, chất lượng cao phục vụ nhu cầu xã hội. Do có năng lực tài chính mạnh, hàng hóa của các doanh nghiệp lớn thường có chất lượng đảm bảo, thường xuyên đôi mới, chủng loại đa dạng. Tiêu chi đánh giá Quan lý thuế đối với doanh nghiệp lớn, những yếu tố ảnh hướng đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn Các yêu tô ảnh chính hưởng đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn bao gôm : - Hệ thống quản lý thuế: Co cấu tổ chức hệ thống quản lý thuế nói chung ở Việt Nam là hợp lí và tương đối chặt chẽ và thống nhất, riêng đối với doanh nghiệp lớn, đã có cơ quan trực tiếp quản lý, đó là Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn trực thuộc Tổng cục Thuế.
- Trình độ, năng lực quản lý thuế của các cán bộ thuế : Nếu trình độ, năng lực quản lý thuế cũng như đạo đức của cán bộ quản lý thuế tốt thì việc thực thi luật thuế sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại. - Cơ chế quản lý thuế: cơ chế hiện nay là tự khai, tự nộp, là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến các quy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đây cải cách 15 - Công tác thu nợ và cưỡng chế thuế: tình trạng nợ đọng thuế vẫn còn phổ biến, số nợ thuế vẫn tăng. Cơ quan Thuế chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện chức năng thu nợ: tại các cục thuế. Công tác thu nợ cần phải thực hiện khoa học, nên ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thu nợ dé dễ dang quan lý thu nợ và phân tích tuổi nợ.
- Các hoạt động tuyên truyền thực hiện các văn bản thuế: ngành Thuế cần tổ chức nhiều hội nghị, đối thoại trả lời những vướng mắc về cơ chế, chính sách trong quá trình thực thi pháp luật thuế. Sự cần thiết phải có mô hình quản lý thuế riêng đối với doanh nghiệp lớn ở Việt Nam Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước. Từ các khoản thuế thu được, nhà nước dùng vào việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo ra hàng hóa công cộng phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội như đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện,. Tuy nhiên, thuế lại là vấn đề nhạy cảm, nhất là các sắc thuế trực thu.
Các doanh nghiệp lớn thường có các chi nhánh và công ty con hoạt động rộng khắp trong và ngoài nước, trong các ngành kinh tế mạnh, có tiềm năng thu lớn, có tư vấn chuyên môn về kế toán và thuế, có lưu giữ số sách kế toán. Các doanh nghiệp lớn cũng như các doanh nghiệp khác, đều là đối tượng nộp thuế, coi thuế là một loại hình chi phí cần phải được giảm thiểu thông qua việc không tuân thủ nghĩa vụ thuế trong các giao dịch phức tạp với lượng thuế lớn, tìm cách lách các quy định luật pháp ở mọi cấp độ kinh doanh. Vì vậy, việc phát hiện và ngăn chặn vấn đề này là nhiệm vụ cấp bách của cơ quan quản lý thuế. Các Doanh nghiệp lớn có tác động lớn tới số thu Ngân sách nhà nước, có khối lượng và giá trị giao dịch lớn, tác động thường xuyên tới niềm tin va tính tuân thủ của cộng đồng.
Họ sử dụng những hệ thống cau trúc, hoạt động và giao dịch phức tạp, trong môi trường toàn cầu thay đổi nhanh chóng. Do 16 vậy, cơ quan quan lý thuế cần phải năm bắt được những thay đổi đó dé kịp thời xử lý.