CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CÁP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu quốc tế 1. Các công trình nghiên cứu về lý luận nhà nước đối với các khu công nghiệp KCN là một trong những mô hình đặc trưng của các khu kinh tế (KKT) trên thế giới.
Trong những thập ky 70, 80 của thé ky XX, trước sự bùng nỗ về khoa học công nghiệp các quốc gia trên thế giới đã có nhiều định hướng về đầu tư, xây dựng và phát triển hệ thống các KCN tập trung để phát huy thế mạnh của nền công nghiệp quốc tế. Sự đón nhận đầu tu 6 ạt về vốn, con người, khoa học, công nghệ. vào các KCN ở các quốc gia trên thế giới đã tạo bước chuyền biến tích cực trong nền kinh tế công nghiệp trên thế giới. Có rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã có được nén kinh tế phát triển do tận dụng được những ưu điểm, lợi thế trong việc xây dựng và phát triển các KCN (như Thụy Điền, Ai Cập, Đài Loan.
Nhưng cũng có không ít quốc gia lại không tận dung được những lợi thé đó dé phát triển và dẫn tới thất bại. Cũng chính vì lý do này, mà một số quốc gia không quan tâm đến mô hình KCN, ho tìm kiếm một mô hình khác thích hợp hơn và hiệu quả hon; có thé ké đến: Tại Hàn Quốc: nghiên cứu và thực hiện phát triển phát triển theo mô hình KCN tập trung; Trung Quốc tập trung nghiên cứu và phát triển theo mô hình KCN Hương Tran (thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước đầu tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ), mô hình khu kinh té mở (quy mô rộng lớn về không gian, địa bàn hoạt động và đa dạng về ngành nghé, trong đó thu hút công nghiệp của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài). - Michael Porter, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Cạnh tranh, Giáo sư Đại học Harvard (Mỹ) trong cuốn sách Cluster and the new Economics of Competition [51] va trong nhiều bài báo, bài luận, bài phát biểu đã nghiên cứu về KCN, khi phân tích tính cạnh tranh của nền kinh tế, Michael Porter đã nhân mạnh về các KCN. Theo quan điểm của vị giáo sư này thì KCN “Là sự tập trung về địa lý của các doanh nghiệp, của các nhà cung cấp dịch vụ, của những người được hưởng dịch vụ, của các ngành công nghiệp và các tô chức có liên quan trong lĩnh vực cụ thể có cạnh tranh nhưng cũng có hợp tác”.
Định nghĩa của Michael Porter, có hai yêu cầu quan trọng: Thứ nhất, các doanh nghiệp trong một cụm liên kết với nhau theo nhiều cách, bao gồm cả liên kết dọc (mạng lưới cung ứng, sản xuất và phân phối), lẫn liên kết ngang (các sản phẩm và dich vụ bổ sung. Thứ hai, đặc trưng chủ yếu là hoàn cảnh địa lý, các cụm được bé trí tập trung về không gian, các hãng có quan hệ với nhau. Cùng địa điểm sẽ khuyến khích hình thành và tăng thêm giá trị, từ đó những hệ thống quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp tác động hỗ trợ giữa các doanh nghiệp. Michael Porter đã xem xét KCN từ góc độ cạnh trang và chính sách quản lý nhà nước.
Ông đã đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp. Các KCN giữ mối liên kết quan trọng, có sự bảo trợ và lan tỏa về công nghệ, kỹ năng, thông tin marketing và nhu cầu của khách hàng liên quan đến mọi doanh nghiệp và của cả ngành công nghiệp. Những lợi thế này cho phép các doanh nghiệp có năng suất cao hon và khả năng đôi mới hơn, từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh của mình. Việc xây dựng, phát triển các KCN dé thu hút và quản lý hoạt động của các nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp được xem là xu thế tất yêu, phù hợp với sự vận động chung của kinh tế trên thế giới và phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường của nhiều nước trên thế giới.
Đối với tác phâm The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development of eco-industrial parks: An Australian case study [48] đưa ra quan niệm mới trong quản ly nha nước các KCN theo hướng phát triển KCN sinh thái với các tiêu chí cụ thé va minh chứng trong điều kiện của Australia. Mặc dù các KCN sinh thái được xem là khái niệm mới đôi với nhiêu doanh nghiệp, chính quyên địa phương và các cộng đông trong nước. Tương tự như một số KCN truyền thống, các KCN sinh thái được thiết kế dé cho phép các doanh nghiệp cùng sử dụng cơ sở hạ tang dé giảm thiểu chi phí và gia tăng thúc day sản xuất. Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp quan ly nhà nước doi với các khu công nghiệp Công trình nghiên cứu Implementing indusstrial ecology? Planning for eco- industrial parks in the USA của D.
Deutz cho biét mặc dù có sự đồng thuận rộng rãi của vẫn đề phát triển bền vững trong các diễn đàn quốc tế nhưng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win-win-win” (cùng thăng) về các mặt phát triển kinh tế, môi trường và xã hội vẫn là van đề khó có thé thực hiện được. Những người ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyền trong chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đường thăng đến hệ thống khép kín sẽ giúp đạt được những mục tiêu nêu trên. Trong những năm gần đây, các khái niệm cho thấy công nghiệp sinh thái đã được sử dụng dé xây dựng, quản lý nhà nước các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm các tác động tiêu cực do phát triển công nghiệp mang lại như: Chất thải, ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên. Tác giả cũng nhấn mạnh các vấn đề khó giải quyết trong công tác quản lý nhà nước tại các KCN ở Mỹ.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu vào hoạt động quản lý nhà nước các KCN dưới góc độ kinh tế và môi trường mà chưa xem xét đến các vấn đề phát triển xã hội. Quá trình quy hoạch các KCN tập trung qua đó thu hút các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dé tạo điều kiện thúc day sản xuất công nghiệp tai địa phương và gia tăng khả năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động sản xuất trong KCN. Việc phát triển KCN sẽ góp phần thúc đây hoạt động chuyền giao, đổi mới công nghệ sản xuất. Nghiên cứu Chinese Science and Technology Industrial Parks của Susan M Walcott đã xem xét vai trò của các KCN Trung Quốc trong việc thu hút các công nghệ hiện đại để sản xuất các hàng hóa có chất lượng đưa ra thị trường trong nước và quốc tế.
Tác giả đã đưa ra các lập luận dựa trên lý thuyết về liên kết KCN có sự khác biệt giữa các khu vực và địa phương, từ Tây An ở phía Tây tới vùng thủ đô Bắc Kinh, Tô Châu - Thượng Hải ở duyên hải và Thâm Quyến — Quảng Đông ở Đông Nam. Tuy nhiên, chưa nêu được cách thức phướng pháp quản lý nhà nước đối với các KCN. Cac công trình nghién CỨU trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về lý luận quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp Nghiên cứu của tác gia Vũ Thành Hưởng (2006) “ Một số nhân to không bên vững trong phát triển các KCN nước ta”, Tạp chí Kinh tế và phát triển; đã nêu ra cụ thé van đề nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại các KCN.
Tác giả đã dựa trên những tiêu chí đánh giá về môi trường đầu tư theo vùng của Indonesia (với sự tài trợ của USAID và quỹ Châu A — Asia Foundation, 2004) dé áp dụng đánh giá môi trường đầu tư của các KCN Hà Nội trong mối tương quan giữa các địa phương trong cả nước. Từ những đánh giá, phân tích đề xuất các giải pháp nâng cao môi trường dau tư vào các KCN trên địa bàn thành phó Hà Nội. - Đối với dé tài cấp Bộ của tác giả Trương Chí Binh (2009), “Cum liên kết công nghiệp ” đã coi Cụm liên kết công nghiệp (CLKCN) là một công cụ quan trọng dé phát triển kinh tế, công nghiệp và trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đề tài đã làm rõ nguồn gốc của CLKCN là tích tụ công nghiệp theo địa lý và đưa ra các phân tích, đánh giá thực trạng của việc tập trung công nghiệp tại Việt Nam.
Trên cơ sở sự tích tụ, tập trung tự phát đó đã hình thành nên nhu cầu phát triển của các CLKCN. Từ những lý luận và nhu cầu thực tiễn, tác giả đã đưa ra các định hướng chiến lược về CLKCN, phát triển các CLKCN trở thành nội dung của chính sách công nghiệp quốc gia và địa phương. Đề tài đã đưa ra được các nội dung sau: + Hỗ trợ doanh nghiệp trong tạo dựng liên kết, nâng cao năng lực cạnh tranh, thiết lập mạng lưới sản xuất và xây dựng chuỗi giá trị sản pham. + Tập trung vào một số lĩnh vực sản xuất phụ trợ: Cơ khí, nhuộm, dệt may và một số ngành tiêu thủ công nghiệp có giá trị xuất khâu cao (gồm, mây tre.
Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý CLKCN ở Việt Nam như: Tăng cường cơ chế chính sách thu hút FDI, tăng cường vai trò quản lý của hiệp hội phát triển các dịch vụ kinh doanh, đầu tư và cơ cau ngành nghề trong các KCN. - Tác giả Đỗ Thị Đông (2010), “Tổ chức lại Cụm công nghiệp dệt may nhằm tăng khả năng xuất của ngành may xuất khẩu Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 154. Nói về mô hình KCN dét may tại Việt Nam. Tác giả đã nêu rõ các khái niệm khác nhau về KCN và lợi ích của KCN mang lại đối với nền kinh tế.
Có 4 lợi ích cơ bản như sau: + Các doanh nghiệp trong KCN có thê tăng năng suất, hiệu quả công việc do tận dụng được lợi thế của việc liên kết, bố trí gần nhau về mặt địa lý. + Các doanh nghiệp trong cùng một ngành hay một lĩnh vực được bố trí gần nhau sẽ mang lại hiệu quả làm việc, khuyến khích sự sáng tạo và cải tiễn được hoạt động sản xuất. + Tạo sự nhận biết của cộng đồng đối với việc tập hợp các doanh nghiệp trong KCN. + Các doanh nghiệp nhận được hỗ trợ của Chính phủ khi tham gia vào các KCN.