CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ CÔNG TÁC QLNN VỀ GIẢM NGHÈO ĐỊA BÀN CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ 1. Tổng quan về giảm nghèo 1. Khái niệm về nghèo và giảm nghèo Nghèo là “Khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ đủ cho nhu cầu ăn, thậm chí cũng có thể không đủ cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có. Ngoài ra các nhu cầu ăn, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa đi lại và giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất nhỏ”.
[1,tr186] Có hai loại kiểu Nghèo, đó là Nghèo tuyệt đối và Nghèo tương đối. - Nghèo tuyệt đối: “Theo Robert McNamara: Nghèo tuyệt đối là sự đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách, vượt quá sức tưởng tượng, mang dấu ấn cảnh ngộ may mắn". - Nghèo tương đối: Nghèo tương đối trong xã hội thịnh vượng được xác định trên tiêu chí hoàn cảnh cá nhân của xã hội. * Giảm nghèo “Giảm nghèo là một cấu phần của hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa tầng, bao trùm và phổ quát.
Giảm nghèo vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để củng cố hệ thống an sinh xã hội, giảm thiểu rủi ro về phúc lợi từ các yếu tố KT-XH, môi trường và từ các sự kiện khác. Ngoài ra, hệ thống an sinh xã hội còn trợ giúp xã hội cho những người không thể tự nuôi dưỡng bản thân vì khuyết tật hay vì kinh tế." Tạp chí BHXH đã có cuộc trao đổi với bà Ramla Khalidi - Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam về những vấn đề liên quan. Chuẩn mực xác định hộ nghèo và giảm nghèo Năm 1997, chương trình Phát triển Liên hợp Quốc quy định ranh giười nghèo tuyệt đối, lấy mốc làm chuẩn: Các nước Đông Âu: 14,40 đô la, Carribean là 4 đô la, thì Mỹ La Tinh 2 đô la. 6 * Đối với Việt Nam Từ năm 1993 – 2005, Việt Nam đã trải qua 4 lần xác định lại mức chuẩn nghèo.
Năm 2001, Nhà nước xác định: Đối với các hộ nông thôn miền núi và hải đảo được xác định thu nhập bình quân đầu người 80.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Thu nhập bình quân đầu người các hộ nông thôn đồng bằng Nhà nước chuẩn mực là 100.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Thu nhập bình quân đầu người các hộ nghèo ở thành thị được xác định 150.000 đồng/ người/ tháng. Năm 2005, Nhà nước đã xác lại các hộ nghèo trong giai đoạn 2006 – 2010 phù hợp với kinh tế thị trường.
Thu nhập bình quân đầu người các hộ nông thôn đồng bằng Nhà nước chuẩn mực là 200.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Thu nhập bình quân đầu người các hộ nghèo ở thành thị được xác định 260.000 đồng/ người/ tháng. Riêng thành phố Hồ Chí Minh được xác định, thu nhập bình quân đầu người hộ nghèo là 330.000 đồng/ người/ tháng trở xuống. Tại nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020, đề ra một số nhiệm vụ về an sinh xã hội theo các tiêu chí việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội.
Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025, đưa ra các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 và giai đoạn 2022 - 2025 được quy định theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ. 7 * Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025: - Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 2.000 đồng/người/tháng. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, gồm: (1) Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin.
(2) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; BHYT; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin. (3) Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. * Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025 - Chuẩn hộ nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên ở khu vực nông thôn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên ở khu vực thành thị.
- Chuẩn hộ cận nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực nông thôn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực thành thị. - Chuẩn hộ có mức sống trung bình: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000 đồng ở khu vực nông 8 thôn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000 đồng ở khu vực thành thị.
Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách KT-XH khác giai đoạn 2022 - 2025. Nguyên nhân của nghèo đói (1). Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn Những người nghèo thường thì họ thiếu rất nhiều và nhiều nhất là họ thiếu nguồn lực, họ không có sự lựa chọn cho riêng mình và thường đi theo đường luẩn quẩn quanh sự đói nghèo và nguồn lực ấy. Hầu như những người nghèo chủ yếu ở khu vực nông thôn, đại đa số là các hộ sản xuất nông nghiệp.
Họ thiếu vốn, thiếu các dụng cụ khoa học tiên tiến hiện đại, quanh năm họ chỉ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, sản lượng thì phụ thuộc vào thời tiết thiên nhiên nên không thể cho năng suất, giá trị kinh tế cao. Tất cả các sản phẩm của họ không thể có tính cạnh tranh trên thị trường được bởi vì các sản phẩm có họ mẫu mã xấu,… chính vì thế mà họ luôn theo vòng luẩn quẩn và đói nghèo luôn theo hòm không thể thoát ra được. Một số người dân khi nhận được một số tiền đền bù từ các dự án chi trả, tiền nhiều làm cho họ thỏa mãn các nhu cầu mà họ dự định sắp tới. Họ không biết tiêu xài vào các khoản gì cho hợp lý, ăn chơi, tiêu xài phung phí, … làm cho họ chỉ thoát nghèo trong thời gian rất ngắn.
Khi tiêu xài hết số tiền mà họ nhận được thì họ lại tái nghèo. Lại trở về hộ nghèo nhưng lại không có đất để sản xuất, … tạo ra thu nhập lại vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó trong thời gian dài. Việc làm thì không tìm được, thất nghiệp lại tăng lên đáng kể cũng là vấn nạn dẫn đến đói nghèo. Trong thời gian vừa qua, do dịch covid-19 diễn ra nhanh chóng và lây lan trên khắp thế giới, các vấn đề về giá điện, giá xăng dầu tăng giảm thất 9 thường, cũng gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Giãn cách xã hội, nhiều công ty đóng cửa dẫn đến việc làm của người công nhân đi làm thất thường thậm chí là nghỉ việc, nguyên nhân này cũng dẫn đến đói nghèo. Người dân không có việc làm chuyển sang làm môi giới đất, cò đất làm, cùng với tác động của lãi suất ngân hàng giảm, giá vàng cũng giảm, … dẫn đến người dân ồ ạt đi vay tiền ngân hàng để đầu tư bất động sản dẫn đến việc ồ ạt bán đất, các căn nhà chung cư mọc lên như nấm,… làm thị trường bất động sản trở lên sôi động trở lại sau hơn mười năm đóng băng. Thế nhưng tất cả việc trao đổi mua bán trên lại là những giao dịch của những người ở nơi khác đến mua, người dân bán đất có tiền, lúc đầu 5, 6 nhà bán sau dần trở thành trào lưu bán đất, … tạo điều kiện cho đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, người dân không còn đất để tái tạo nông nghiệp để tạo ra sản phẩm nữa, có tiền nếu người dân biết dùng đúng mục đích thì họ sẽ có được cuộc sống ổn định. Ngược lại, họ không biết sử dụng những số tiền trên, họ ăn chơi, hưởng thụ quá đà, không tạo đồng tiền có lãi thì họ lại rơi vào cảnh nợ nần, … và cuối cùng họ lại rơi vào cảnh nghèo đói, đất thì đã mất, công việc thì không còn, họ lại không thể thoát nghèo một lần nữa.
Trong trường hợp khác, hộ được xác định là hộ nghèo thì họ có hoặc chưa có nhiều cơ hội được ưu tiên với các dịch vụ về sản xuất nông nghiệp như bảo vệ động vật, bảo vệ thực vật, các chính sách khuyến nông, chính sách khuyến ngư, các dịch vụ nông nghiệp như điện, giống cây trồng, phân bón, vật nuôi, các dịch vụ nông nghiệp khác, … (2) Khả năng tiếp cận vốn của người nghèo còn hạn chế và ít có cơ hội tiếp cận các vốn tín dụng, đó là nguyên nhân dẫn đến trì hoãn sự đổi mới trong trong việc áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm đầu vào và đầu ra ít được thị trường tiếp cận đến. Trong khi đó người nghèo không có vốn, phụ thuộc vào nguồn vốn vay tín dụng rất nhỏ để đầu tư, dẫn đến vòng quay của vốn đạt hiệu quả là rất thấp dẫn đến khả năng trả lại vốn giảm. 10 (3) Trình độ phổ thông còn thấp, việc làm còn thiếu thậm chí còn không ổn định.