Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, SỰ NGHIỆP CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực tại đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, vị trí, vai trò của lực lượng quản lý thị trường Theo Pháp lệnh số: 11/2016/UBTVQH13 của BTV Quốc Hội (2016) về quản lý thị trường thì: “Lực lượng Quản lý thị trường là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.” Lực lượng quản lý thị trường góp phần cùng các cơ quan chức năng của bộ máy nhà nước đấu tranh chống các hành vi vi phạm trong hoạt động SXKD.
Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực theo cách hiểu thông thường “là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm thể lực và trí lực”. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2010), trường Đại học Kinh tế quốc dân có nói: “Nhân lực là sức lực của con người, nó nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển, hoàn thiện cùng với sự phát triển của cơ thể con người; đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.” Nguồn nhân lực liên quan đến 2 yếu tố: số lượng và chất lượng. Số lượng nhân lực hợp lý là số lượng con người phù hợp với quy mô của DN hay quy mô của nhiệm vụ. Chất lượng NNL được xét trên 3 mặt: thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực là tình trạng sức khỏe phù hợp với công việc được giao.
Trên quan điểm bình đẳng và nhân quyền ngày nay được thế giới công nhận, một người có khuyết tật về thân thể. Nhưng nếu được giao một công việc phù hợp thì vẫn coi là có thể lực đối với công việc đó. Chúng ta đã chứng kiến nhiều người khuyết tật, nhưng lại là những chuyên gia máy tính nổi tiếng. Trí lực là năng lực trí tuệ, kỹ năng, khả năng sáng tạo để hoàn thành công việc ở mức tốt nhất có thể.
Trí lực là yếu tố quan trọng nhất trong chất lượng NNL. Trí lực thể hiện qua trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Tâm lực thể hiện đạo đức, triết lý sống và làm việc. Tâm lực tạo ra động lực lao động sáng tạo, đóng góp cho lợi ích của tổ chức, cho bản thân người lao động và đồng nghiệp.
Ba yếu tố trên là ba yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng nguồn lao động. Nguồn nhân lực trong tổ chức luôn bị hao mòn trong quá trình sử dụng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Sự khôi phục và phái triển nguồn nhân lực được coi là yếu tố sống còn của mỗi tổ chức. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Theo giáo trình Quản lý nhân lực của doanh nghiệp của Đỗ Văn Phúc (2004), đã chỉ ra: “Quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý tập thể người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tổ chức mà họ làm việc.
Tại một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động sản xuất, doanh nghiệp có thể cần ít hay nhiều nhân lực tuỳ thuộc vào khối lượng công việc. Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo cho tổ chức hoạt động trong một khuôn khổ đã định sẵn, công việc được sắp xếp có trật tự, kỉ cương và phù hợp với khả năng của người lao động.” Theo Giáo trình Quản trị Nhân lực của Trần Kim Dung (2016) thì: “Quản lý nguồn nhân lực là quá trình tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo phát triển và tạo điều kiện thuận lợi để đạt được hiệu quả làm việc cao trong một tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu đã vạch ra. Vai trò, chức năng, đặc điểm quản lý nguồn nhân lực tại đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh 1. Vai trò của quản lý nguồn nhân lực “ Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công có nhiệm vụ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện và phát triển nhân sự, bố trí sử dụng, kiểm tra, giám sát… Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đã chứng minh, quản lý nhân sự trong khu vực công có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của quốc gia, các tổ chức trong khu vực công.
Quan hệ lao động trong các cơ quan khu vực công là mối qua hệ đặc biệt. Tính đặc biệt này do chính bản chất của cơ quan nhà nước quy định. Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước vừa là người sử dụng lao động vừa là người lao động. Trong thế chế chính trị ở Việt Nam, cán bộ, công chức, viên chức làm việc không chỉ trong bộ máy nhà nước mà còn làm việc trong các tổ chức chinh trị, tổ chức chính trị - xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Mặt khác, vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc thiết lập các nguyên tắc cơ bản để quản lý cán bộ, công chức nói chung.” Để đạt được mục đích của hoạt động của tổ chức không thể không kể đến vai trò của công tác quản lý NNL. Quản lý NNL cũng là một phương thức để đáp ứng được động cơ của người lao động. Lợi ích của người lao động được đảm bảo thì lợi ích của tổ chức cũng như lợi ích của Nhà nước mới đảm bảo vững chắc. Một cơ chế tổ chức quản lý NNL không cân đối giữa các lợi ích thì sẽ đem lại hậu quả tiêu cực, thủ tiêu tính tích cực sáng tạo của người lao động, làm suy sụp tổ chức dẫn tới việc phải xây dựng lại cơ cấu tổ chức.
Quản lý NNL còn là căn cứ để các tổ chức thực hiện công tác giáo dục, nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ công nhân viên sao cho phù hợp với yêu cầu luôn thay đổi của nền kinh tế thị trường hiện nay. Các tổ chức cần phải luôn đổi mới cơ cấu quản lý NNL, đây là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động của tổ chức. Chức năng cơ bản của quản lý nguồn nhân lực Theo Giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Đình Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2017) thì chức năng cơ bản trong quản trị, quản lý nguồn nhân lực gồm: “Thu hút, tuyển chọn và bố trí nhân sự: nhằm đảm bảo đủ số lượng nhân viên với trình độ, kỹ năng, phẩm chất phù hợp với công việc và bố trí họ vào đúng công việc để đạt được hiệu quả cao nhất. Đào tạo và phát triển: nhằm nâng cao trình độ lành nghề, các kỹ năng và các nhận thức mới cho nhân viên.
Đào tạo, phát triển hướng đến nâng cao các giá trị của tài sản nhân lực cho tổ chức nhằm tăng khả năng cạnh tranh cũng như tăng khả năng thích ứng với môi trường đầy thay đổi. Duy trì và sử dụng nguồn nhân lực: nhằm vào việc sử dụng có hiệu quả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 nguồn nhân lực. Hướng đến sự phát huy tối đa khả năng làm việc của nhân viên đồng thời tạo ra sự gắn bó trung thành với tổ chức. Các chính sách liên quan đến động viên đúng đắn sẽ góp phần nâng cao tinh thần và nhiệt tình cho nhân viên.
Thông tin và dịch vụ về nhân lực (Quan hệ lao động): nhằm cung cấp các thông tin có liên quan đến người lao động và thực hiện các dịch vụ mang tính phúc lợi cho nhân viên. Các thông tin về lao động bao gồm các vấn đề như: chính sách tiền lương, tiền công, thông tin về tuyển dụng, đề bạt, đào tạo, đánh giá kết quả công việc, các thông tin liên quan đến quan hệ lao động hay các thông tin về an toàn và bảo hộ lao động…” 1. Quản lý nguồn nhân lực công vụ Có nhiều cách hiểu khác nhau về khu vực công. Trong thực tế, thuật ngữ "khu vực công" (Public sector) thường được hiểu đồng nghĩa với "khu vực nhà nước" (State sector).
Theo sách Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công - Lý luận và kinh nghiệm một số nước của Nguyễn Thị Hồng Hải, Nguyễn Thị Thanh Thủy (2015) thì: “Nguồn nhân lực luôn được xem là yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của bất kỳ tổ chức nào. Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công có tầm quan trọng đặc biệt, bởi đó là những người được sử dụng quyền lực nhà nước để hoạch định chính sách, đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Nếu khu vực này không có được nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ khó có thể thực hiện được mục tiêu mà nhà nước đặt ra, không thể phục vụ và đáp ứng được nhu cầu của nhân dân và xã hội.” Cũng Theo sách Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công - Lý luận và kinh nghiệm một số nước của Nguyễn Thị Hồng Hải, Nguyễn Thị Thanh Thủy (2015) thì: “Quản lý nhân sự trong khu vực công có nhiệm vụ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân sự, bố trí sử dụng, kiểm tra, giám Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.