Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tổ chuyên môn là tổ chức cơ sở của nhà trường THPT, trực tiếp quản lý giáo viên về mặt tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kế hoạch giảng dạy và giáo dục, kết quả học tập của học sinh. TCM là nơi tổ chức thực hiện chương trình giáo dục theo cấp học, là nơi thảo luận, trao đổi về nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh và là nơi triển khai toàn bộ các hoạt động giáo dục tới học sinh. Hoạt động của TCM là hoạt động thiết yếu, chủ lực cho tất cả các hoạt động giáo dục.
Vì vậy, nghiên cứu công tác quản lý, xây dựng và phát triển các hoạt động dạy học - giáo dục trong nhà trường nói chung, hoạt động TCM nói riêng ở các trường THPT là nhiệm vụ quan trọng và là điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trong những năm qua, nhiều tác giả như: Hà Sĩ Hồ, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Thái Duy Tuyên… đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trong đó có bàn đến quản lý hoạt động TCM. Khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Hợi - Phạm Minh Hùng - Thái Văn Thành đã khẳng định: Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn như: e 8 + “Một số biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường Tiểu học thành phố Thanh Hóa” của Lê Đại Hành (2010).
+ “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang” của Triệu Thị Chính (2010). + “Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở trường THPT huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” của Vũ Thị Thu Lương (2014). + “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THPT huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” của Trương Quang Phong ( 2015). + “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THPT huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Văn Trường (2015).
Nhìn chung, các đề tài đều phản ánh được thực trạng quản lý TCM ở một số trường Tiểu học, Trung học cơ sở (THCS), THPT và trường Dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh mình. Các đề tài cơ bản đã nêu được những mặt mạnh trong công tác quản lý, từ đó đã đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động TCM trong nhà trường đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, các biện pháp đưa ra còn tương đối giống nhau như: biện pháp Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động TCM, biện pháp Quản lý việc thực hiện nhiệm vụ TCM, biện pháp Quản lý hoạt động giảng dạy của GV. Các biện pháp đưa ra còn mang nặng tính lý thuyết, chú trọng đến quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của TCM và GV là chính, chưa quan tâm đến việc chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của TCM.
Công tác quản lý hoạt động dạy học chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, các TCM chưa thật sự trở thành tập thể để học tập và chưa phát huy được sức mạnh trí tuệ của từng thành viên trong tổ. Qua khảo sát các nguồn tài liệu, có thể thấy, trên địa bàn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên chưa có công trình nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm nào về Công tác quản lý hoạt động TCM ở các trường THPT. Từ thực tế trên, chúng tôi mong muốn rằng, qua nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động tổ e 9 chuyên môn ở các trường THPT huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên”, chúng tôi sẽ giúp các trường THPT có được những biện pháp quản lý khoa học, mang lại hiệu quả thiết thực, làm thay đổi một số hoạt động chưa hiệu quả của các TCM ở các trường THPT, đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp, khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngày một toàn diện. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Khái niệm quản lý Ngày nay thuật ngữ “quản lý” tuy đã phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Khái niệm “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Từ điển Việt Nam, xét trên góc độ quản lý lao động: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [37, tr. Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra” [9, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29, tr.
Tác giả Trần Kiểm viết: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức và hiệu quả cao nhất” [22, tr. Tác giả Trần Quốc Thành định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [35, tr. e 10 Từ những quan niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, nhằm đạt được mục đích của quản lý. Công cụ quản lý Mục Chủ thể Khách tiêu quản lý thể quản quản lý lý Phương pháp quản lý Môi trường quản lý Sơ đồ 1.
Khái niệm quản lý 1. Chức năng quản lý Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Có 4 chức năng quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch hóa: Là chức năng đầu tiên, quan trọng nhất của quá trình quản lý. Kế hoạch được hiểu là việc xác định và thực hiện hệ thống mục tiêu, mục đích bằng các con đường, cách thức, biện pháp cụ thể trong những điều kiện xác định. Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là: Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo các nguồn lực; quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được những mục tiêu đề ra. e 11 - Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, bố trí một cách khoa học và phù hợp những nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) của hệ thống thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau để đạt được mục tiêu của hệ thống một cách tối ưu nhất, hiệu quả nhất.
Đây là một chức năng quan trọng, đảm bảo tạo thành sức mạnh của tổ chức để thực hiện thành công kế hoạch. Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức là: xây dựng cơ cấu tổ chức; xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự; xác định cơ chế hoạt động và các mối quan hệ của tổ chức; tổ chức lao động một cách khoa học. - Chức năng chỉ đạo: là chức năng có tính chất tác nghiệp, điều chỉnh, điều hành hoạt động của hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định để biến mục tiêu dự kiến thành kết quả thực hiện. Trong quá trình chỉ đạo phải thường xuyên bám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ thống đúng tiến trình, đúng kế hoạch đã định.
Đồng thời phát hiện ra những sai sót và kịp thời sửa chữa, điều chỉnh để không làm thay đổi mục tiêu, hướng vận hành của hệ thống nhằm giữ vững mục tiêu chiến lược và kế hoạch đã đề ra. Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo là: Thực hiện quyền chỉ đạo và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ; đôn đốc, động viên và kích thích người lao động; giám sát các bộ phận và mọi cá nhân thực hiện kế hoạch đã đề ra. - Chức năng kiểm tra: Thu thập những thông tin ngược từ đối tượng quản lý trong quá trình vận hành của hệ thống để đánh giá mục tiêu, dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào? Trong quá trình kiểm tra, kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót, tìm ra nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút kinh nghiệm trong quá trình quản lý tiếp theo. Kiểm tra không hẳn là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý, bởi nó không chỉ diễn ra khi công việc đã hoàn thành, có kết quả mà nó còn diễn ra trong suốt quá trình từ đầu đến cuối, ngay từ lúc chuẩn bị xây dựng kế hoạch.
e 12 Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Chu trình quản lý Bốn chức năng quản lý nói trên có mối quan hệ mật thiết và gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình quản lý. Tuy nhiên, để thực hiện tốt các chức năng trên thì chủ thể quản lý phải sử dụng đến yếu tố thông tin như là một công cụ hỗ trợ để cùng thực hiện mục tiêu của quá trình quản lý. Biện pháp quản lý - Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể của chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt hiệu quả quản lý như mong muốn. Tính hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào sự lựa chọn đúng các biện pháp tác động vào tổ chức.