Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS. Thời kỳ tiền TBCN (thế kỷ XV-XVIII), nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comensky trong tác phẩm "Lý luận dạy học vĩ đại" , nhà nghiên cứu cho biết: “ý nghĩa, vai trò của kiểm tra, đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của HS, ông nhấn mạnh kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn HS tự kiểm tra, đánh giá kiến thức của bản thân” [dẫn theo 19].
Theo Trung tâm nghiên cứu về Đánh giá của Đại học Melboume (Úc) thì: “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đưa ra trong các chuẩn hay kết quả học tập (KQHT)” [46].Tiler quan niệm “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình GD” [36]. Nghiên cứu của Jean - Marie De Ketele (1989) thì: "Đánh giá có nghĩa là: Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định” [45].I Vroeiienstiin thì: “Đánh giá chất lượng là mọi hoạt động có cấu trúc nhằm đưa đến sự xem xét về chất lượng của quá trình DH, bao gồm tự đánh giá hay đánh giá bởi các chuyên gia từ bên ngoài” [45].Griffin cho biết “Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự kiện, nó bao hàm cả việc thu thập thông tin sử dụng trong việc đánh giá một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định” [26]. Nghiên cứu của Savin thì “Đánh giá có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển sự học tập của học sinh, đẩy mạnh sự pháp triển về công tác giáo dục của các em. Đánh giá được thực hiện trên cơ sở kiểm tra và đánh giá theo hệ thống 5 bậc: xuất sắc 5 điểm, tốt 4 điểm, trung bình 3 điểm, xấu 2 điểm, rất xấu 1 điểm” [22].
6 Bên cạnh đó, Tác phẩm “Educational Assessment of Students” (Đánh giá HS) của tác giả Anthony J.Nitko đã trình bày về vai trò của công tác QL trong ĐG KQHT của HS như: “Phát triển các KH giảng dạy kết hợp với đánh giá; các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả; đánh giá HS”; “Đánh giá HS còn là trách nhiệm to lớn của người Hiệu trưởng trong nhà trường, hiệu quả của công tác đánh giá có tốt hay không là do năng lực QL của người Hiệu trưởng nhà trường” [1]. Ngoài ra, có các tài liệu “Monitering Educational Achivement” của tác giả N.Postlethwaite (2004); “Monitering Evaluation: Some Tools, Methods and Approches” của Worbank (2004); cuốn “Managing Evaluation in Educational” của Kath Aspinwall, Tim Simkins, John F. John Me Auley (1992); cuốn “Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả” của Jody Zall Kusek, Ray C. đã viết về QL hoạt động ĐGHS, đây là những tài liệu giúp cho người thực hiện quản lý biết được những lý thuyết cơ bản để thực hiện quản lý hoạt động ĐG KQHT của HS nói chung, đánh giá kết quả môn Tiếng Việt nói riêng đạt hiệu quả.
Như vậy, vấn đề ĐG nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả trên thế giới. Kết quả của những nghiên cứu này giúp chúng ta thấy được ý nghĩa, vai trò của ĐG trong GD; quan niệm, xu hướng ĐG hiện nay; quy trình, phương pháp, kĩ thuật, công cụ ĐG. Ở Việt Nam Theo Trần Trọng Hà (2015) “GD phổ thông nước ta đang dần chuyển hướng từ chú trọng việc truyền đạt kiến thức sang coi trọng hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của HS. Để thực hiện được thành công nhiệm vụ mới này, cần phải thay đổi, điều chỉnh nhiều thành tố của GD phổ thông.
Một trong những thành tố then chốt đó là phát triển chương trình GD phổ thông theo định hướng phát triển năng lực”[12]. Tác giả Nguyễn Thị Tính quan niệm “Đánh giá trong GD là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng QL về mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính, định lượng, kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu đã đặt ra” [31]. Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam, Trịnh Quốc Lập (2008): “ĐG KQHT có nhiều ý nghĩa với người học, người dạy cũng như với người QL và các nhà khoa học. Khi kết quả học tập được đánh giá một cách khoa học, chất lượng dạy học và đào tạo được nâng cao.
Trong bài viết trình bày một số vấn đề lý thuyết về ĐG KQHT của sinh viên và những cải tiến phương pháp kiểm tra ĐG KQHT của sinh viên tại khoa Sư phạm, Đại học Cần Thơ, đồng thời tác giả cũng đưa ra những đề xuất khắc phục những tồn tại trong việc kiểm tra và đánh giá hiện nay” [21]. 7 Đánh giá trong GD “có mục đích chung là cung cấp thông tin để ra các quyết định về dạy học và GD”, “GV thực hiện kiểm tra, đánh giá HS vì các mục tiêu khác nhau…: phân loại HS, lên KH và điều chỉnh hoạt động giảng dạy; phản hồi và khích lệ; phán đoán giá trị, xếp loại học tập và phân định mức độ tiến bộ” [19]. Nguyễn Hữu Hậu, Phạm Văn Hiền cho rằng: “Thực tiễn, ĐG KQHT của học sinh hiện nay“chủ yếu tập trung vào việc đánh giá về những gì mà nhà trường dạy cho học sinh mà chưa thực sự chú trọng vào việc đánh giá những gì học sinh học được”(học trong trường, học ở nhà, học ngoài xã hội).Phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng chưa có những đổi mới về căn bản, đánh giá chủ yếu dựa trên mục tiêu (kiến thức, kỹ năng và thái độ), và nội dung trong sách giáo khoa” [13]. Như vậy, qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy: Đánh giá trong giáo dục nói chung, trong hoạt động dạy học nói riêng là một vấn đề quan trọng, được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các giáo viên quan tâm.
Xu thế đánh gia hiện nay là đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra vai trò, ý nghĩa của hoạt động này trong quá trình dạy học và xem đó là một công việc quan trọng của giáo viên. Có nhiều cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu về đánh giá song chưa có công trình nào tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Vì vậy, mong muốn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” để đóng góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá học sinh tiểu học thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khái niệm chung nhất về quản lý là “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật” [dẫn theo14, tr.Taylor (1856-1915) quan niệm: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác” [30].Fayol “Quản lí là sự dự đoán và lập KH, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là kiểm tra và đây cũng là 5 chức năng cơ bản nhất của quản lí” [14, tr.20] Tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz : “QL là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm. Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời 8 gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [23, tr. Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều tác nhà nghiên cứu và đưa ra khái niệm về quản lý. Tác giả Nguyễn Quốc Trí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) KH hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đich của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra” [40]. - Nhà nghiên cứu Đặng Bá Lãm “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [20].
- Trần Kiểm cho biết: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể QL trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17, tr. - Theo tác giả Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Kỳ: “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [33]. Cách diễn đạt có khác nhau, nhưng chung quy lại ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý. Đánh giá Có nhiều quan niệm trong đánh giá, tùy thuộc vào mục đích, vai trò, mức độ và đối tượng đánh giá mà tác giả đưa ra các quan niệm sâu hơn về khía cạnh đánh giá.
Từ điển tiếng Việt giải thích: “đánh giá là: Nhận định giá trị” [35].