CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DVVT 1. Dịch vụ viễn thông và đặc điểm dịch vụ viễn thông 1.Khái niệm dịch vụ viễn thông Viễn thông là hoạt động liên quan tới việc phát thanh, truyền tin tức… thông qua hệ thống đường truyền tín hiệu. Ngành viễn thông có nhiều đóng góp cho đời sống của người dân. Thay vì liên lạc bằng phương pháp truyền thống như viết thư tay, truyền miệng… thay nay có thể truyền tín hiệu, gửi thông tin với khoảng cách rất xa, kết nối thế giới lại với nhau.
Đã có nhiều khái niệm đưa ra, sau đây là một số khái niệm về Viễn thông như sau: Khái niệm viễn thông được nêu rõ tại Pháp lệnh số 43/2002/PL- UBTVQH về Pháp lệnh Bưu chính viễn thông, trong đó “Bưu chính Viễn thông là ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển Bưu chính Viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đảm bảo quốc phòng an ninh” (Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội,2002). “DVVT là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiện, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua mạng viễn thông. Nói cách khác, DVVT là dịch vụ cung cấp cho KH khả năng trao đổi thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin qua mạng viễn thông (thường là mạng công cộng như mạng điện thoại chuyển mạch công cộng, mạng điện thoại di động, mạng internet, mạng truyền hình cáp…) của các nhà cung cấp dịch vụ và cung cấp hạ tầng mạng”.(Nguyễn Thượng Thái, 2007) Tóm lại, DVVT là dịch vụ cung cấp thông tin dưới các dạng khác nhau: tín hiệu, số liệu, âm thanh,…từ các đối tượng khác nhau thông qua mạng viễn thông.
Qua đó, giúp cho các thông tin được truyền tải đầy đủ và chính xác từ đối tượng cung cấp thông tin sang đối tượng tiếp nhận thông tin. Đặc điểm DVVT Đặc điểm DVVT chứa đựng đầy đủ đặc điểm của dịch vụ, và có một số đặc trưng của hoạt động cung cấp viễn thông như sau: - Đặc điểm vô hình của DVVT: Sản phẩm của DVVT không có là hình thái vật chất, không phải là một loại hàng hóa cụ thể mà là kết quả của quá trình tuyền dẫn thông tin từ người gửi đến người nhận. DVVT cũng nhằm mục đích trao đổi vô hình và không gắn với quá trình sản xuất vật chất. - Lực lượng lao động làm việc trong ngành viễn thông là những lao động công nghệ, lao động thuộc nhóm quản lý và lao động hoạt động bổ trợ, không phải là lao động trực tiếp sản xuất.
- Đối tượng lao động là hệ thống các thông tin, hay tin tức được mã hóa thông qua đường truyền như các tin nhắn, các cuội đàm thoại,…từ người gửi đến người nhận. - Tư liệu lao động là các phương tiên, các thiết bị truyền thông tin: thiết bị vi mạnh, thiết bị truyền dẫn, vật kiến trúc,… - Hoạt động kinh doanh DVVT mang tính chất dây chuyền: đó là sự kết nối giữa hai người: người đưa tin và người nhận tin. Khoảng cách của người đưa tin và người nhận tin là rất xa, có thể ở các quốc gian khác. Do vậy, để đảm thông tin liên lạc giữa các vùng miền, giữa các quốc gian thì các công ty viễn thông cần có sự kết nối, hợp tác để có thể tạo một mạng lưới thông tin rộng khắp và áp dụng nhiều các dịch vụ tiện ích giúp nâng cao được đời sống người dân ở khắp mọi nơi.
Như vậy, tham gia vào hoạt động kinh doanh DVVT cần có một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ tham gia, đưa các thông tin từ người gửi đến người nhận ở các địa phương khác nhau, ở các quốc gia khác nhau,…đòi hỏi các nhà cung cấp DVVT phải có tính kỷ luật, tính an ninh, tính bảo mật cao, thống nhất các quy định, các nghiệp vụ trong quá trình cung cấp dịch vụ thống nhất giữa viễn thông trong nước với viễn thông thế giới. 7 - Quá trính sản xuất cung cấp DVVT và quá trình sử dụng dịch vụ gắn liền với nhau, không có sự tách rời. DVVT được cung cấp và sử dụng thường gắn liền với nhau, hay quá trình tiêu thụ được sử dụng ngay trong quá trình sản xuất. Ví dụ như dịch vụ đàm thoại, thì quá trình sản xuất được tính từ thời điểm bắt đầu đàm thoại, quá trình tiêu thụ là quá trình bắt đầu sử dụng đàm thoại, sau khi cuội đàm thoại kết thúc thì quá trình tiêu thụ cũng đã hoàn thành.
Do đặc điểm không tách rời trong sản xuất và tiêu thụ này đòi hỏi KH sử dụng dịch vụ phải có mặt tại vị trí có cung cấp dịch vụ, hoặc có thiết bị truyền phát sóng,… Vì vậy, để đảm bảo cung cấp dịch vụ cho toàn bộ cộng đồng dân cư thì các đơn vị cung cấp DVVT cần phải mở rộng mạng lưới kinh doanh rộng khắp, phủ sóng các tỉnh thành, các địa phương và cả khu vực vùng sâu vùng xa, đưa mạng viễn thông tới tất cả các đối tượng KH nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng.Các loại hình DVVT Theo Nghị định số 25/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông, các loại hình DVVT bao gồm DVVT cố định và DVVT lưu động: “ DVVT cố định bao gồm DVVT cố định mặt đất, DVVT cố định vệ tinh. DVVT di động bao gồm DVVT di động mặt đất, DVVT di động vệ tinh, DVVT di động hàng hải, DVVT di động hàng không. Theo hình thức thanh toán giá cước, các dịch vụ viễn được phân thành dịch vụ trả trước và dịch vụ trả sau: thứ nhất: Dịch vụ trả trước là dịch vụ mà người sử dụng DVVT thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ trước khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên. Thứ hai: dịch vụ trả sau là dịch vụ mà người sử dụng DVVT thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên.
Theo phạm vi liên lạc, các DVVT được phân thành dịch vụ nội mạng và dịch vụ liên mạng. thứ nhất: Dịch vụ nội mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa những người sử dụng dịch vụ của cùng một mạng viễn thông. thứ hai: 8 dịch vụ liên mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa những người sử dụng dịch vụ của các mạng viễn thông khác nhau. Các mạng viễn thông khác nhau là các mạng viễn thông khác loại của cùng một DNVT hoặc các mạng viễn thông của các DNVT khác nhau.
DVVT cộng thêm là dịch vụ tăng thêm tính năng, tiện ích cho người sử dụng DVVT, là một phần không tách rời và được cung cấp cùng với các DVVT cơ bản và giá trị gia tăng. Các DVVT khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Quản lý hoạt động cung cấp DVVT 1.Khái niệm Theo Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018) “ Quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống ” Quản lý hoạt động cung cấp DVVT là sự tác động có tổ chức, có mục đích của cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt hoạt động cung cấp DVVT nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong việc quản lý, điều hành, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa đơn vị cung cấp dịch vụ với KH. Đặc điểm quản lý hoạt động cung cấp DVVT Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động cung cấp DVVT thì vừa mang đặc điểm của hoạt động quản lý vừa mang đặc điểm của hoạt động cung cấp DVVT, cụ thể như sau: - Hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trên cùng một lĩnh vực.
Chính vì vậy nảy sinh nhiều vấn đề cạnh tranh không công bằng giữa các công ty, nếu điều này diễn ra thường xuyên thì người chụi thiệt hại cuối cùng chính là xã hội. Do vây cần 9 một bàn tay quản lý, sắp xếp và đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động đúng với các quy định pháp luật: đảm bảo quyền lợi cho người cung cấp các DVVT, những cũng đảm bảo quyền lợi cho KH. - Quản lý nhà nước đối với hoạt động cung cấp DVVT là dạng quản lý mang tính chất bắt buộc, cưỡng chế, mệnh lệnh. Chủ thể quản lý là nhà nước, khách thể là các đối tượng cung cấp dịch vụ và KH phải chấp hành.
Nhà nước quy định các quy tắc chung mà không đối tượng nào được phép vi phạm pháp luật: luật bảo mật thư tín, các quy định về quyền cá nhân,… đồng thời, nhà nước có những chế tài xử phạt đối với những đối tượng vi phạm. - Quản lý hoạt động cung cấp DVVT được thực hiện trên cơ sở luật pháp Việt Nam gắn với hội nhập quốc tế, tức là các quy định về cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, hoặc các nhà cung cấp DVVT của Việt Nam cung cấp ra các quốc gia khác trên thế giới phải theo luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế và luật pháp của quốc gia sở tại nhận dịch vụ. Vai trò quản lý hoạt động cung cấp DVVT - Vai trò đối với nền kinh tế: DVVT ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, DVVT chiếm khoảng 70-80% tổng cơ cấu GDP, tạo việc làm và thu nhập cao hơn các lĩnh vực khác của nền kinh tế từ 3 đến 4 lần.