Chương 1, Luật giáo dục (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc VHDT, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [15. Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Trưởng Bộ GD - ĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 cũng có quy định nội dung hoạt động: “Mỗi trường có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống VHDT và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả HS; phối hợp với chính quyền, đoàn thanh niên và nhân dân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng cho cuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách du lịch. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020” [15] Trường phổ thông có nhiệm vụ giáo dục truyền thống VHDT cho HS dân tộc. Điều này được quy định tại Điều 4, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PT ban hành kèm theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25/8/2008 của Bộ trưởng Bộ GD - ĐT: “giáo dục HS về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa của các DTTS và đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước” [22].
Bộ GD&ĐT công văn số 4593/BGDĐT-GDDT ngày 07/10/2019 của việc báo cáo thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS các vùng dân tộc thiểu số và vùng núi [4] Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Nông công văn số 1965/SGDĐT-GDTXCTTT ngày 10/10/2019 về việc báo cáo thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS các vùng dân tộc thiểu số và vùng núi [19] “Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam” do Trần Văn Giàu chủ biên,NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1980 [9] “Biện chứng của truyền thống” của Hà Văn Tấn, Tạp chí Cộng sản, số 10 3-1981 [24] “Về truyền thống dân tộc” của Trần Quốc Vượng, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981 [25] “Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng con người mới ở nước ta”của Đỗ Huy, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 5-1986 [10] -”Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại” của Lương Quỳnh Khuê[11], Tạp chí Triết học, số 41992; “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển” của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2, 1998 [7] Các chuyên đề trên cũng như các tác phẩm về văn hóa dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều ý kiến giáo dục thích hợp, như thông qua giảng dạy một số bộ môn văn hóa trên lớp có liên quan như bộ môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, giáo dục công dân và cả hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp, phối hợp nhiều lực lượng tham gia nhưng chưa chỉ ra các biện pháp, quản lý cụ thể đối với quản lý giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh các trường PT trên địa bàn huyện Tuy Đức. Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn nêu trên chúng tôi nhận thấy công tác giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho học sinh các trường PT là một nội dung giáo dục rất quan trọng nhưng chưa được tập trung nghiên cứu sâu và chỉ ra các biện pháp quản lý hữu hiệu. Do đó, chúng tôi chọn đề tài: “QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG”. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là khái niệm rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực quản lý và có 11 nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một số quan niệm thuộc lĩnh vực quản lý xã hội mà chủ yếu trong lĩnh vực quản lý giáo dục. Theo từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên): “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan. Còn có nghĩa khác là trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì” [26.tr,22] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [23.tr,7] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng người biến thành những thành tựu của xã hội” [12.
Các quan niện về quản lý nêu trên tuy có khác nhau, song cùng có những nét tương đồng sau: Quản lý là những tác động có tính hướng đích, được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; là những tác động nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Tóm lại, quản lý là những tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Quản lý giáo dục Giống như khái niệm “quản lý”, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau: -Theo tác giả Hồ Văn Liên: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và 12 điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [14.tr,18] -Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô tương ứng với quản lý một nền hệ thống giáo dục và cấp vĩ mô tương ứng với quản lý một nhà trường [12.tr,37,38] Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Theo Bùi Văn Quân thì: “QLGD là một dạng quản lý xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi và tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục” [18.
Như vậy, từ những nội dung trên, có thể hiểu: QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm đưa họat động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển đều tạo ra cho dân tộc mình những giá trị văn hóa riêng. Những giá trị VHDT đó là kết quả ứng xử của cộng đồng dân tộc trước các điều kiện tự nhiên và xã hội. Sự xuất hiện giá trị VHDT vừa là kết quả tất yếu của quá trình vận động tồn tại, vừa là hệ quả của những sáng tạo đáp ứng nhu cầu cuộc sống.
Những giá trị VHDT có tác dụng chi phối các hoạt động của cộng đồng, được cộng đồng lưu giữ trân 13 trọng mà hình thành nên các giá trị truyền thống của chính dân tộc đó. Những giá trị VHDT trở thành căn cứ quan trọng để nhận diện một dân tộc và cũng là cơ sở để khẳng định sự tồn tại một dân tộc. VHDT bao gồm giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sáng tạo trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Tùy thuộc vào sự vận động và phát triển của mỗi dân tộc mà mức độ sáng tạo văn hóa của từng dân tộc có khác nhau.
Do đó, mỗi dân tộc đều có những giá trị sáng tạo riêng, hình thành nền văn hóa mang tính đặc trưng (bản sắc) và đều khẳng định sức sống mãnh liệt của những sáng tạo ấy. Do vậy, bản sắc văn hóa là chỉ cái cốt lõi, những đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử phát triển, tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác. Những biểu hiện của bản sắc VHDT là những thành tố văn hóa cơ bản mà qua đó biểu hiện những yếu tố văn hóa bất biến, những giá trị văn hóa khắc họa nên diện mạo riêng của mỗi tộc người, một dân tộc, đó là: ngôn ngữ; tập quán - tín ngưỡng - nghi lễ; luật tục, phong tục; lễ hội; trang phục - trang sức; trò chơi dân gian; nhà cửa - kiến trúc; sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật trình diễn. Truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam là một nước giàu truyền thống văn hóa với 54 dân tộc anh em cùng chung sống.
Tính đa dạng về VHDT thể hiện trên bình diện văn hóa các nhóm ngôn ngữ - tộc người, và văn hóa các nhóm địa phương của mỗi tộc người, như Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khơme, Mông - Dao, Tạng - Miến, Hoa. Mỗi tộc người lại gồm nhiều nhóm địa phương với sắc thái văn hóa phong phú. Cái sắc thái văn hóa tộc người ấy đan kết, thâm nhập, tiếp biến giữa nhân tố bản địa và ngoại lai, tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa Việt Nam. 14 Truyền thống văn hóa dân tộc là những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của mỗi một dân tộc, những hạt nhân giá trị tức là không phải tất cả mọi giá trị mà chỉ nói những giá trị văn hóa tiêu biểu nhất, bản chất thật, chúng mang tính dân tộc sâu sắc chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực như văn hóa nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp ứng xử hàng ngày của người dân tộc đó.