CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác giáo dục môi trường và quản lý công tác giáo dục môi trường 1. Các nghiên cứu ngoài nước Trước những hiểm họa về môi trường có thể xảy ra, một Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức từ ngày 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1972 tại thủ đô Stockholm (Thụy Điển). Hội nghị đã nhất trí rằng bảo vệ thiên nhiên và môi trường là một trong hai nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhân loại.
Hội nghị cũng nhận ra vai trò của giáo dục môi trường nhằm tạo ra nhận thức, hiểu biết của cộng đồng về những vấn đề môi trường. Trong kiến nghị thứ 96 của Hội nghị, GDMT được coi là yếu tố quyết định trong sự cố gắng để tấn công vào khủng hoảng môi trường toàn cầu. Đặc biệt, Hội nghị còn kiến nghị tất cả các quốc gia trên thế giới cần phải quan tâm đến GDMT cho học sinh trong nhà trường. Để thực hiện thành công GDMT, Hội nghị đã đề nghị cần phải đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, phát triển và thử nghiệm các chương trình, tài liệu, cũng như các phương pháp GDMT.
Cũng từ Hội nghị Stockholm, chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) được thành lập. Sau đó, UNEP kết hợp với UNESCO xây dựng chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP) Tháng 10-1975, IEEP tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về giáo dục môi trường ở Belgrade (Nam Tư). Kết quả là Hội thảo đã đưa ra Hiến chương Belgrade, trong đó chú trọng tới các nguyên tắc và các hướng dẫn cho chương trình GDMT toàn cầu như: mục tiêu của giáo dục môi trường là nhằm nâng cao một cách toàn diện nhận thức, tri thức, hành vi, kỹ năng, khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh của môi trường; thái độ, ý thức trách nhiệm của mọi người trong việc tham gia một cách tự giác và tích cực vào các hoạt động BVMT. 8 Theo sau hội thảo Belgrade, hàng loạt các cuộc hội thảo cấp vùng được diễn ra ở Châu Phi, Châu Á, các nước Ả rập, Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, Châu Âu… Ở châu Á, tháng 11 năm 1976, Hội thảo ở Bangkok (Thái Lan) đã đưa ra những khuyến nghị, tập trung vào bốn lĩnh vực chủ yếu: Chương trình giáo dục môi trường.
Bồi dưỡng nguồn lực. Giáo dục môi trường phi chính quy. Soạn thảo tài liệu, xây dựng các phương tiện giảng dạy giáo dục môi trường. Tiếp theo Hội nghị các khu vực, từ ngày 14 đến 26 tháng 10 năm 1977, một Hội nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi (Cộng hòa Grudia), gồm 66 đại biểu của 66 nước thành viên của UNESCO.
Hội nghị này là đỉnh cao của giai đoạn xây dựng chương trình và đặt cơ sở cho sự phát triển GDMT trên bình diện quốc tế. Sau các hội nghị trên, một cuộc hội nghị quốc tế về GDMT do UNESCO và UNEP được tổ chức từ ngày 17 đến 21 tháng 08 năm 1987 tại Matxcơva, gồm 300 chuyên gia của 100 nước, các quan sát viên IUCN (Hội thảo bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên quốc tế) cùng các tổ chức quốc tế khác tham gia. Hội thảo đã đề ra 9 mục tiêu và chiến lược hành động quốc tế trong lĩnh vực GDMT và đào tạo giáo viên cho thập kỉ 90. Các chương trình được phát triển trong thời kì này yêu cầu phải nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người và sinh quyển trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hóa và sinh thái.
Hội nghị đã đặt tên cho thập kỉ này là: “Thập kỷ toàn thế giới cho GDMT”. Tháng 10-1990 UNESCO và UNEP cùng một số tổ chức khác của Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị “Chương trình quốc tế về giáo dục và đào tạo môi trường” (EFE). Hội nghị đã nêu rõ sự cam kết của các tổ chức quốc tế 9 phối hợp hành động, phục vụ mục tiêu phổ biến kiến thức môi trường cho mọi người để họ có thể đóng góp các hoạt động cá nhân và tập thể có lợi cho môi trường. Hội nghị cũng nhấn mạnh tính đa dạng, cập nhập của thông tin về môi trường phù hợp từng đối tượng, trong đó giáo viên được xem là một đối tượng cần được thường xuyên trang bị hiểu biết cần thiết về bảo vệ môi trường.
Đối với các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, vấn đề GDMT đã được quan tâm và triển khai ngay sau Hội nghị Stockholm. Nhiều nước trong khu vực, nhiều tổ chức phi chính phủ như Hội GDMT quốc gia, các Hội BVMT quốc gia, Hội giáo viên giảng dạy về môi trường … đã quan tâm và có nhiều đóng góp tích cực cho các chương trình GDMT cho học sinh. Hội thảo của khu vực Châu á - Thái Bình Dương tháng 9-1980 về GDMT tại Băng Cốc đã cụ thể hoá các mục tiêu, tính chất, mức độ về GDMT: Cần thực hiện GDMT xuyên suốt mọi cấp học chính quy và không chính quy, tích hợp và lồng ghép qua mọi môn học. Cần tập trung vào việc xây dựng định hướng về giá trị, góp phần giải quyết các vấn đề thực tại nảy sinh trong cuộc sống.
Hội thảo đã trao đổi kinh nghiệm cụ thể của các nước về nội dung, hình thức, biện pháp về GDMT ở từng cấp học, về công tác xây dựng chương trình, tài liệu, phương tiện thích hợp đối với từng đối tượng. Việc đào tạo bồi dưỡng GV, đào tạo các chuyên gia về MT đã được các nước trong khu vực đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu trong nước Ngày nay, việc BVMT là nhiệm vô cùng cấp thiết với toàn nhân loại. Một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ môi trường là thông qua giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng ý thức và hành vi đúng đắn đối với môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là cho thế hệ trẻ ở các trường học.
Đây là biện pháp tích cực để tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững 10 và nâng cao năng lực của con người trong hoạt động bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, hoạt động GDMT cũng đã được chú trọng từ rất lâu. Năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động “Tết trồng cây” và phong trào này cho đến nay vẫn còn phát triển mạnh mẽ. Trong thập niên 80 thông qua việc thay sách giáo khoa của chương trình cải cách giáo dục, các tác giả đã chú trọng hơn đến việc đưa nội dung GDMT vào trong các môn học, đặc biệt là Địa lý, Sinh học, Ngữ văn, Giáo dục công dân… Từ năm 1995, dự án Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam của Bộ Giáo dục - Đào tạo do UNDP tài trợ nằm xây dựng một chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về giáo dục môi trường tại Việt Nam.
Mục tiêu chính của dự án là nhằm tăng cường năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc chuyển tải nội dung và phương pháp giáo dục môi trường vào các chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, đồng thời, hỗ trợ để xây dựng các hoạt động giáo dục môi trường cụ thể, đưa vào thực hiện ở các cấp học. Những mục tiêu này đã được cụ thể hóa trong dự án VIE 98/018. Hiện nay, có nhiều tài liệu về giáo dục môi trường như “Giáo dục môi trường qua môn Địa lý” của nhóm tác giả Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng – Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2002, là cuốn giáo trình nhằm cung cấp cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm cũng như giáo viên địa lý ở các trường phổ thông những hiểu biết về cơ sở của việc BVMT, các phương pháp giáo dục môi trường qua môn Địa lý ở trường phổ thông. Trong giáo trình “Giáo dục môi trường qua bộ môn Địa lý ở trường phổ thông” của nhóm tác giả Lương Thị Vân – Nguyễn Đức Vũ cũng có đề cập cụ thể hơn về những kiến thức cần thiết, những kỹ năng cơ bản và cung cấp các cơ hội cho người học về giáo dục môi trường Có thể thấy, hiện nay đã có rất nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới hoạt động giáo dục môi trường và GDMT như: 11 Luận văn thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Tý: “Biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn Quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng” đã đề cập đến những kỹ năng và kiến thức cơ bản cho học sinh trong việc BVMT đồng thời tác giả cũng đưa ra 6 biện pháp để quản lý hiệu quả công tác giáo dục môi trường cho học sinh.
Từ những khái quát trên thì đề tài này đã kế thừa, tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm lí luận quản lý GDMT, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý GDMT tại các trường THCS thị xã Gia Nghĩa. Đồng thời đề xuất các biện pháp quản lý hợp lý góp phần thay đổi hành vi và nâng cao hiểu biết của học sinh các trường THCS thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý.
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động cao hơn. Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn “Quản lý là tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý; quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao.
Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật”. 12 Hoạt động quản lý bao giờ cũng có chủ thể và đối tượng quản lý.